Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư vấn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư vấn doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

Việt kiều có quyền thành lập doanh nghiệp không?

Ai được quyền thành lập, ai được quyền góp vốn vào Doanh nghiệp?

Các quy định về quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp và quyền góp vốn vào doanh nghiệp được quy định như sau:
Mọi tổ chức (không phân biệt nơi đăng ký trụ sở chính), mọi cá nhân (không phân biệt nơi cư trú), trừ 7 nhóm đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp được quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp, trong đó bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài (thường trú và không thường trú tại Việt Nam) và tổ chức nước ngoài.

Mọi tổ chức và cá nhân đều có quyền góp vốn vào công ty TNHH, CTCP,CTHD trừ các đối tượng sau:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;
e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;
g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.

Một người có thể thành lập tối đa bao nhiêu doanh nghiệp?

Pháp luật có những hạn chế nhất định liên quan đến quyền thành lập doanh nghiệp như sau:
- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân. (Khoản 3, Điều 141, Luật Doanh nghiệp năm 2005);
- Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại. (Khoản 1, Điều 133, Luật Doanh nghiệp 2005);
- Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác. (Khoản 2, Điều 133, Luật Doanh nghiệp 2005);
Trừ những trường hợp trên thì bạn có thể góp vốn thành lập bao nhiêu công ty cũng được.
Một người có được làm đại diện theo pháp luật của 2 công ty không?
Một người có thể làm đại diện theo pháp luật của nhiều công ty trừ  trường hợp sau:
(Theo điều 116 Luật doanh nghiệp) Thì giám đốc công ty cổ phần không được làm giám đốc công ty khác.
Vì vậy bạn có thể làm đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần mà  không mang chức danh giám đốc (Bạn có thể giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị) vì vậy bạn có thể làm đại diện theo pháp luật nhiều công ty. Điều này luật không cấm.

Việt kiều có quyền thành lập doanh nghiệp không?

Theo khoản 2 điều 13 luật doanh nghiệp 2005 thì việt kiều được quyền mua lại vốn của doanh nghiệp.
Nhưng Theo (điều 13 Luật quốc tịch) “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam”.
Vì vậy nếu việt kiều chưa thỏa điều kiện quốc tịch (chưa xác định là mình có quốc tịch Việt Nam) thì xem như người nước ngoài vì vậy khi đăng ký thành lập họ bị hạng chế một số vấn đề như: Lĩnh vực hoạt động, tỷ lệ góp vốn…
Ngành nghề đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp có bị hạn chế không?
Doanh nghiệp được tự chủ đăng ký và thực hiện kinh doanh các ngành, nghề không thuộc đối tượng hạn chế của pháp luật.
Doanh nghiệp bị cấm kinh doanh các ngành, nghề gây phương hại đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân,
Đối những ngành nghề có điều kiện về vốn pháp định hoặc chứng chỉ ngành nghề doanh nhiệp cần phải chứng nhinh những điều kiện trên với cơ quan đăng ký kinh doanh khi nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.
Cần phải chứng minh vốn khi đăng ký kinh doanh không?
Theo quy định của pháp luật thì khi đăng ký kinh doanh không cần chứng minh về vốn tùy thuộc vào quy mô hoạt động của công ty mà doanh nghiệp có thể đăng ký mức vốn điều lệ hợp lý.
Tuy nhiên đối với một số ngành nghề pháp luật đòi hỏi về vốn pháp định như: Ngân hàng, kinh doanh bất động sản, dịch vụ bảo vệ… thì doanh nghiệp phải chứng ninh khả năng tài chính của mình. Trong trường hợp này thì vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định.

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

Nên hay không cho hợp tác xã thành lập công ty?

Đa số ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đồng tình với Tờ trình của Chính phủ về dự thảo đồng thời cho rằng cần ban hành luật. Tuy nhiên, vấn đề HTX có được thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần hay không vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Đình Đàn băn khoăn: Các điều 5, 8, 9, 10 của dự thảo luật luôn khẳng định quyền độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của HTX. Nếu chúng ta không công nhận HTX như một loại hình doanh nghiệp thì có thể cắt đi quyền thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần, nhưng khi đã công nhận HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp thì việc cắt bỏ các quyền này là làm mất quyền tự chủ của HTX. Vì vậy, cần phải xem xét tính toán kỹ nội dung này.


Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu thống nhất với tờ trình của Chính phủ, cho rằng nếu cho phép HTX thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác có thể làm HTX dần xa rời bản chất và mục đích hoạt động là để phục vụ các thành viên trên cơ sở tài sản chung không chia; đồng thời tăng thêm rủi ro cho hoạt động của HTX.
Không nên cho phép HTX thành lập công ty, góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác để khuyến khích phát triển HTX mang bản chất đích thực, phát triển vững chắc hơn, tránh được các rủi ro.
Kết luận vấn đề, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên nhấn mạnh: Quốc hội đặt cho HTX địa vị pháp lý là tổ chức kinh tế tập thể hoạt động như doanh nghiệp nhưng không có nghĩa như doanh nghiệp hoàn toàn. HTX có những mô hình và phương thức hoạt động khác nhau, tùy theo từng lĩnh vực cụ thể.
Có thể thiết kế một quy định nguyên tắc chung cho mọi loại hình HTX và những quy định cho từng loại hình đặc thù. Nếu áp dụng tất cả các chính sách để hỗ trợ HTX phát triển thì không đủ lực, do đó, phải hình dung được những nhóm chính sách hỗ trợ của nhà nước để gắn với từng loại hình HTX ở từng vùng miền cho phù hợp, lĩnh vực nào hỗ trợ vốn, lĩnh vực nào hỗ trợ cơ chế, đào tạo đội ngũ quản lý.

DỊch vụ thành lập công ty - nhiều đơn vị - nhiều chất lượng

Trước khi đến với dịch vụ của chúng tôi khách hàng đã tham khảo hàng trăm hàng ngàn cỗ khách rồi và khi được hỏi vì sao chọn Topiclaw là đơn vị cuối cùng cung ứng dịch vụ cho bạn mà không phải các đơn vị trước, vị khách kia trả lời: "các đơn vị khác niêm yết là trọng gói 950 ngàn nhưng chỉ soạn cho hồ sơ, xong rồi mới tá hỏa ra hồ sơ sai tùm lum, Topiclaw 1.500 ngàn nhưng trọn gói và còn được hướng dẫn thuế".

Quả thực rất nhiều trường hợp bỏ sang Topiclaw, vì Topiclaw không lên top từ khóa nên các bạn thường gọi dịch vụ sau cùng. Nhưng hễ ai được luật sư của chúng tôi tư vấn đều cảm thấy hài lòng với chất lượng và chuyện môn của các nhân viên tư vấn tại công ty chúng tôi !

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Thành lập doanh nghiệp, cần quan tâm gì?


Quyết định thành lập doanh nghiệp là một quyết định quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào, đặc biệt là những người mới khởi nghiệp.

Sau quyết định quan trọng đó, chính là lúc các nhà đầu tư tiến hành các thủ tục pháp lý để thành lập doanh nghiệp. Thủ tục pháp lý thành lập doanh nghiệp hiện nay khá đơn giản và thời gian xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng không dài, nên có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập trong những năm gần đây.

Trong giai đoạn tiền thành lập này, các nhà đầu tư thường có khuynh hướng tập trung vào các vấn đề thương mại khác của doanh nghiệp như tìm hiểu thị hiếu khách hàng tiềm năng, chọn địa điểm kinh doanh, tìm nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp để phục vụ cho dự án kinh doanh...

Việc làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thường được nhà đầu tư xem nhẹ và coi là bước thủ tục phải làm mà không đặt trọng tâm vào. Tuy nhiên, trong thực tế có một số vấn đề pháp lý phát sinh có liên quan đến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà các nhà đầu tư (đặc biệt là những người mới khởi nghiệp) cần lưu ý.

1. Cần xác định ngành nghề kinh doanh cho doanh nghiệp

Xác định được ngành nghề kinh doanh cho doanh nghiệp rất quan trọng vì ngoài thủ tục đăng ký kinh doanh thông thường, ở một số loại ngành nghề, các nhà đầu tư còn phải xin thêm giấy phép kinh doanh, phải có chứng chỉ hành nghề, hoặc phải đáp ứng thêm một số điều kiện đặc thù của ngành nghề đó mà pháp luật quy định cũng như phải thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.

Hiện nay pháp luật doanh nghiệp quy định ba loại hình của ngành nghề kinh doanh chính mà đòi hỏi nhà đầu tư phải thỏa mãn thêm một số yêu cầu đối với việc đăng ký kinh doanh, đó là: (i) các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, (ii) các ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, và (iii) các ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề.

Đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện như nêu ở (i) thì tùy từng ngành, nghề kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ được yêu cầu phải: (i) xin giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho ngành nghề kinh doanh đó (ví dụ như đối với ngành sản xuất phim, doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh do Cục Điện ảnh cấp trước khi làm thủ tục đăng ký kinh doanh); hoặc (ii) đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh tại thời điểm thành lập và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp (ví dụ như kinh doanh vũ trường, karaoke).

Đối với ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp định như nêu ở (ii) ở trên (ví dụ như kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định 6 tỉ đồng, dịch vụ đòi nợ phải có vốn pháp định 2 tỉ đồng), các nhà đầu tư phải chuẩn bị văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (cụ thể là xác nhận của ngân hàng).

Đối với ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề như nêu ở (iii), ví dụ như kinh doanh dịch vụ pháp lý, kiểm toán, kế toán, thì tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà chủ sở hữu hoặc người quản lý doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề.

Do đó, việc xác định ngành nghề kinh doanh là rất quan trọng cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cần phải chắc chắn là mình có thể thỏa mãn các điều kiện pháp lý để có thể xin được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trước thay vì lo tập trung cho các công việc khác mà phải tốn kém chi phí, ví dụ như đặt cọc thuê nhà, thuê mướn nhân viên) rồi cuối cùng nhận ra là mình chưa đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Cần xác định nguồn vốn điều lệ

Các nhà đầu tư cũng cần xác định rõ loại tài sản nào mà nhà đầu tư sẽ dùng để góp vốn thành lập doanh nghiệp (ví dụ như tiền đồng, ngoại tệ, vàng, cổ phiếu, bất động sản, động sản...).

Riêng đối với tài sản góp vốn không phải là tiền đồng, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì cần phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá, để làm cơ sở cho việc góp vốn và hạch toán kế toán, thuế của doanh nghiệp.

Các nhà đầu tư cần thiết phải trao đổi với nhau để thống nhất phương thức định giá và tổ chức định giá trước khi thành lập doanh nghiệp hay thậm chí là tự thỏa thuận định giá với nhau - và có thể đưa vào trong hợp đồng/thỏa thuận thành lập doanh nghiệp (xem phần 6 bên dưới).

Việc này nhằm tránh trường hợp sau khi doanh nghiệp được thành lập xong, nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về phương thức định giá hay tổ chức định giá hoặc là giá trị của tài sản góp vốn, gây đình trệ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

3. Cần xác định số lượng thành viên góp vốn và loại hình doanh nghiệp

Số lượng các thành viên góp vốn cũng ảnh hưởng đến loại hình doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp sau này.

Nếu chỉ có một nhà đầu tư duy nhất, loại hình doanh nghiệp sẽ có thể là doanh nghiệp tư nhân với cơ chế quản lý là chủ doanh nghiệp, hay là công ty TNHH một thành viên đối với trường hợp nhà đầu tư là tổ chức với cơ chế quản lý có thể là hội đồng thành viên (nếu có từ hai người đại diện theo ủy quyền trở lên) hay chủ tịch công ty (nếu chỉ có một người đại diện theo ủy quyền) hay chủ tịch công ty nếu nhà đầu tư là cá nhân.

Nếu có từ hai nhà đầu tư trở lên thì các nhà đầu tư sẽ chọn lựa giữa việc thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên (có hội đồng thành viên) hay công ty cổ phần (có hội đồng quản trị và đại hội đồng cổ đông).

Mỗi loại hình doanh nghiệp và cơ cấu quản lý có những thuận lợi (ví dụ như thay đổi cổ đông sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần của công ty cổ phần không phải thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty cổ phần có thể phát hành trái phiếu, chỉ cần một nhà đầu tư là đã có thể thành lập công ty TNHH) và những khó khăn (ví dụ như công ty cổ phần thì các cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phần trong ba năm đầu thành lập, công ty cổ phần phải có ít nhất ba cổ đông sáng lập, lương trả cho chủ doanh nghiệp tư nhân không được coi là chi phí hợp lý, hợp lệ của doanh nghiệp tư nhân).

Do đó, các nhà đầu tư cần phải biết trước để chọn lựa loại hình doanh nghiệp và cơ cấu quản lý cho phù hợp. Chọn lựa sai có thể tạo sức ỳ, là lực cản tăng trưởng hay thậm chỉ làm cho doanh nghiệp bị phá sản.

4. Cần lựa chọn tên cho doanh nghiệp

Đặt tên cho doanh nghiệp cũng như đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Nó là thương hiệu của doanh nghiệp, mà từ nó có thể mang đến thành công hay thất bại cho doanh nghiệp. Hiện tại pháp luật cho phép đặt tên cho doanh nghiệp có thể là tên tiếng Việt, tên tiếng nước ngoài (nếu có), tên viết tắt.

Tuy nhiên, việc đặt tên cho doanh nghiệp cần phải đáp ứng một số quy định cũng như không được trùng với tên của những doanh nghiệp cùng ngành nghề đã đăng ký trước đó trong phạm vi toàn quốc.

5. Cần xác định địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp

Địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm địa điểm trụ sở chính của doanh nghiệp thành lập và cả địa điểm của các cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp (nếu có). Mặc dù quy định về đăng ký kinh doanh được áp dụng thống nhất theo Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhưng trên thực tế, xuất phát từ đặc thù riêng biệt mà ở địa phương có thể có những hạn chế, hay những điều kiện nhất định mà doanh nghiệp ở đó phải tuân theo.

Ví dụ, gần đây Sở Giao thông Vận tải Tp.HCM đang cho lấy ý kiến một số sở, ngành liên quan trước khi trình UBND thành phố chính thức ban hành danh mục các tuyến đường, đoạn đường, thậm chí cả một khu vực tạm ngưng không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh các loại hình dịch vụ, thương mại tập trung đông người như siêu thị, nhà hàng, trung tâm tiệc cưới, trung tâm thương mại, trung tâm đào tạo...

Do đó, việc kiểm tra xem địa điểm kinh doanh dự kiến có được cơ quan cấp phép địa phương chấp thuận hay không trước khi thương lượng thuê nhà cũng rất quan trọng mà nhà đầu tư cần lưu tâm trước khi nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.

6. Cần có hợp đồng/thỏa thuận thành lập doanh nghiệp

Hợp đồng/thỏa thuận thành lập doanh nghiệp là hết sức quan trọng và cần thiết đối với trường hợp doanh nghiệp do nhiều nhà đầu tư tham gia. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ đối với loại hình liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thì hợp đồng liên doanh mới được yêu cầu phải có trong hồ sơ đăng ký kinh doanh mà thôi.

Tuy vậy, ngay cả với những trường hợp hồ sơ đăng ký kinh doanh không có yêu cầu thì các nhà đầu tư cũng nên lập hợp đồng hoặc thỏa thuận thành lập doanh nghiệp để có thể xác định quyền và nghĩa vụ của từng nhà đầu tư, tránh những tranh chấp không đáng có sau này.

Hợp đồng hoặc thỏa thuận này sẽ bao gồm những quyền và nghĩa vụ của từng bên trong quá trình chuẩn bị thành lập doanh nghiệp cho đến khi bắt đầu tiến hành đăng ký kinh doanh và ở giai đoạn doanh nghiệp mới thành lập, xử lý trường hợp doanh nghiệp không thể thành lập được... những vấn đề mà điều lệ mẫu của cơ quan cấp phép của địa phương không quy định (ví dụ như các thỏa thuận chuyển nhượng vốn giữa các thành viên góp vốn, cổ đông sáng lập trong tương lai; vấn đề bảo mật thông tin giữa các nhà đầu tư; những cam kết riêng lẻ về những vấn đề hợp tác đầu tư giữa các bên trong tương lai...).

Nói tóm lại, tùy từng trường hợp riêng biệt của nhà đầu tư mà những công việc pháp lý (như được nêu ở trên) cần chuẩn bị trước khi đăng ký kinh doanh. Sự tìm hiểu và chuẩn bị kỹ lưỡng của nhà đầu tư trong giai đoạn này sẽ giúp cho việc tiến hành đăng ký kinh doanh sau đó được thuận lợi hơn rất nhiều, tránh được những sự từ chối hoặc yêu cầu bổ sung, chỉnh sửa từ cơ quan đăng ký kinh doanh, tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc để doanh nghiệp có thể nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

LS. Anh Hồng Ngân - LS. Nguyễn Hữu Phước (TBKTSG)