Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Nhiều điểm mới trong thu lệ phí cấp “sổ đỏ”

Báo PLVN từng đăng tải qui định mới về lệ phí cấp “sổ đỏ” theo Thông tư 106/2010 ngày 26/7/2010 của Bộ Tài chính. Ngay sau đó, nhiều bạn đọc đề nghị báo thông tin cụ thể hơn vì hiện nay không phải ai cũng biết rõ các khoản phải nộp khi đi làm “sổ đỏ”, dễ mất tiền oan.


Mù mờ tiền cấp sổ đỏ


Bà Nguyễn Thị Hường ỏ Cầu Giấy, Hà Nội vẫn chưa hết bức xúc về chuyện bà mất tiền khi làm sổ đỏ: “Cách đây vài năm, tôi nhờ một cán bộ phường làm sổ đỏ hộ. Khi nhận sổ, tôi nghĩ chỉ vài trăm ngàn lệ phí, vì đất nhà tôi không có vấn đề gì, không ngờ tôi bị yêu cầu đưa 7 triệu mà chẳng biết đó là tiền gì. Chẳng có biên lai gì hết, chỉ nghe nói đó là lệ phí làm sổ đỏ, đành chịu vì đã nhờ người ta”. “Cũng tại mình không nắm được mức thu và các khoản phải nộp khi làm sổ đỏ” bà Hường quay sang tự trách mình.


Chuyện không rành các khoản nghĩa vụ tài chính khi được cấp sổ đỏ không phải cá biệt. Một cán bộ địa chính huyện Từ Liêm thừa nhận, nhiều người dân, thậm chí cán bộ xã, phường cũng không nắm được các khoản, mức thu.


Theo qui định của Hà Nội, khi được cấp sổ đỏ, người dân phải nộp các khoản nghĩa vụ tài chính là: Thuế Thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất và lệ phí trước bạ. Nhưng không phải ai cũng biết rõ qui định đó. Ngay một số cán bộ phường, xã khi được hỏi cũng thừa nhận mình không nắm được, nhất là lệ phí cấp sổ đỏ, có nơi nói chỉ 25 ngàn đồng/sổ, có nơi bảo 125 ngàn đồng/sổ (?)


Theo tìm hiểu của phóng viên, một số quận huyện sau khi có qui định mới về lệ phí cấp sổ đỏ sẽ tuyên truyền cho dân rõ. “Chúng tôi đang nghiên cứu và có thể sẽ có cả kế hoạch để tuyên truyền” ông Hải, cán bộ địa chính quận Hai Bà Trưng cho biết.











Người dân rất quan tâm quy định mới về thu lệ phí cấp "sổ đỏ"





Không ảnh hưởng đến việc làm sổ đỏ


Theo qui định mới, hộ gia đình, cá nhân tại các quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; phường nội thành thuộc thành phố hoặc thị xã trực thuộc tỉnh phải nộp không quá 100.000 đồng/giấy đối với cấp mới; tối đa không quá 50.000 đồng/lần cấp đối với cấp lại (kể cả cấp lại Giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào Giấy chứng nhận.


Trường hợp Giấy chứng nhận cấp cho hộ gia đình, cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất (không có nhà và tài sản khác gắn liền với đất) thì áp dụng mức thu tối đa không quá 25.000 đồng/giấy cấp mới; tối đa không quá 20.000 đồng/lần cấp đối cấp lại (kể cả cấp lại Giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào Giấy chứng nhận.


Theo một cán bộ Phòng Đăng ký nhà đất Hà Nội thì qui định trên không ảnh hưởng nhiều đến tâm lý ngại mất tiền không làm sổ đỏ của dân, vì mức tối đa này đã áp dụng lâu nay. Chỉ có khác là, trước đây việc lệ phí cấp giấy chứng nhận sở hữu nhà và đất do hai Bộ Tài Nguyên và Môi trường và Bộ Xây dựng qui định, còn hiện nay “qui” về Bộ Tài chính. Việc một số nơi “tồn” sổ đỏ không phải vì lệ phí cấp sổ đỏ mà vì đất có tranh chấp hoặc tiền sử dụng đất quá cao, không có tiền trả.


Tuy nhiên, qui định mới này đáng chú ý với đối tượng là tổ chức, khi được cấp sổ đỏ, phải nộp tối đa không quá 500.000 đồng/giấy. Trường hợp Giấy Chứng nhận chỉ có quyền sử dụng đất (không có nhà và tài sản khác găn liền với đất) thì không quá 100.000 đồng/giấy. Mức này tăng so với mức thu lâu nay.


Cũng theo qui định mới, có hai đối tượng được miễn lệ phí cấp Giấy chứng nhận, đó là những trường hợp đã được cấp trước ngày Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có hiệu lực thi hành (ngày 10/12/2009) mà có nhu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận; và miễn đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn.
Tuy nhiên, qui định này không áp dụng cho “người thành phố” được cấp Giấy chứng nhận ở nông thôn .



Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Nghị định mới về cấp giấy phép xây dựng có hiệu lực

 Nghị định số 64/2012/NĐ-CP về cấp giấy phép xây dựng (GPXD) là Nghị định đầu tiên quy định về công tác cấp GPXD sẽ có hiệu lực kể từ ngày hôm nay (20/10). So với quy định cấp GPXD trước đây thì quy định này có nhiều điểm mới.

Cấp GPXD là một công tác quan trọng, giúp công tác quản lý nhà nước kiểm soát được việc các công trình được xây dựng đúng với quy hoạch và đảm bảo các quy định của pháp luật về môi trường, phòng cháy, chữa cháy, hành lang an toàn giao thông, lưới điện, đê điều... Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về GPXD còn tồn tại một số bất cập. Đơn cử như thực tế hiện nay, đối với những công trình lớn (công trình cấp I, cấp đặc biệt) nếu để thiết kế xong mới có giấy phép xây dựng thì sẽ mất thời gian tương đối dài.

Khắc phục bất cập trên, Nghị định 64/2012/NĐ-CP đã quy định mới: đối với công trình cấp I, cấp đặc biệt, nếu chủ đầu tư có nhu cầu thì có thể đề nghị để được xem xét cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn. Việc cấp giấy phép theo giai đoạn sẽ tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân có thể triển khai xây dựng ngay cả khi thiết kế toàn bộ công trình lớn chưa xong. Đây là một điểm mới về quy định cấp phép xây dựng.
 Nghị định số 64/2012/NĐ-CP về cấp giấy phép xây dựng (GPXD) là Nghị định đầu tiên quy định về công tác cấp GPXD sẽ có hiệu lực kể từ ngày hôm nay (20/10). So với quy định cấp GPXD trước đây thì quy định này có nhiều điểm mới.Sửa thiết kế trong nhà không phải điều chỉnh GPXD
So với quy định cấp GPXD trước đây thì quy định này có nhiều điểm mới.
Chẳng hạn như một công trình khi đã thiết kế xong móng rồi thì có thể cấp GPXD trong giai đoạn móng trước. Hoặc những công trình theo tuyến có hàng trăm cây số, để thiết kế hoàn chỉnh cả tuyến thì mất thời gian dài cho nên thiết kế theo giai đoạn đến một mức độ đủ yêu cầu theo quy định thì có thể cấp phép cho giai đoạn đó. Trước đây, trường hợp đã được cấp GPXD rồi muốn điều chỉnh thiết kế thì phải xin điều chỉnh GPXD. Tuy nhiên, theo quy định mới (Nghị định 64/2012/NĐ-CP) thì trường hợp điều chỉnh thiết kế không ảnh hưởng đến quy hoạch, kiến trúc bề ngoài và không ảnh hưởng đến các yêu cầu khác như: Phòng cháy, chữa cháy, thoát hiểm thì không cần thiết phải xin điều chỉnh GPXD.

Đặc biệt, nhà ở của người dân điều chỉnh thiết kế mà không ảnh hưởng đến môi trường, phòng cháy chữa cháy,… thì có thể điều chỉnh trong nội bộ công trình mà không phải xin giấy phép nữa. Ví dụ nhà ở của người dân nếu theo bản thiết kế vị trí cầu thang thấy không còn phù hợp thì có thể chuyển xây góc khác.

"Công trình được cấp GPXD tạm không phải là công trình tạm mà là công trình tồn tại có thời gian, khi xây dựng vẫn phải đảm bảo an toàn cho công trình về kết cấu, đảm bảo các quy định khác như về phòng cháy chữa cháy, môi trường, hành lang an toàn… Đến thời hạn thu hồi thì phải phá, bàn giao đất cho cơ quan có thẩm quyền", ông Vinh khẳng định.

Về trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong cấp phép xây dựng, Nghị định quy định theo hướng cải cách hành chính và cơ chế một cửa. Tức là, nếu công trình xây dựng của người dân có liên quan đến đê điều thì cơ quan cấp phép có trách nhiệm hỏi ý kiến cơ quan quản lý về đê điều hay như trường hợp công trình xây dựng của người dân liên quan đến hành lang đường bộ, đường sắt, lưới điện,… thì cơ quan cấp phép phải hỏi ý kiến của cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.

Trường hợp cơ quan cấp phép hỏi mà cơ quan có liên quan không trả lời, thì cơ quan cấp phép căn cứ vào quy định để cấp phép. Nếu sau này có vấn đề gì thì cơ quan liên quan sẽ chịu trách nhiệm. Đồng thời, trong quá trình quản lý trật tự xây dựng, công trình nào xây không phép hoặc xây dựng sai giấy phép thì cơ quan thanh tra xây dựng hoặc cơ quan cấp phép có quyền yêu cầu đơn vị cung cấp điện, nước ngừng cung cấp điện, nước đối với công trình xây dựng vi phạm.
Topiclaw is the registed brand of Panamax JSC

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2012

Nhiều bạn trẻ mở công ty riêng: Hiện tượng hay xu hướng mới?

Tôi công tác tại doanh nghiệp chuyên cung cấp các giải pháp tư vấn quản lý và xây dựng thương hiệu, mới thấy ngày nay việc thành lập một công ty thật dễ dàng và nhanh chóng. Nhưng đáng chú ý là có nhiều bạn trẻ chỉ mới 20 - 22 tuổi đã mở công ty riêng rồi.
Một số trong đó có vốn lớn thì đã đành, số khác chỉ có vài ba triệu đồng cũng đã lập nghiệp riêng! Phải chăng là người trẻ bây giờ tham vọng quá ? Mạo hiểm quá ? hay tự tin quá ? Cũng chưa biết thế nào, vì cũng tùy người và tùy trường hợp.
Nhưng nói chung là cả Nhà nước và dư luận đều ủng hộ xu hướng tích cực này. Vậy nên Chính phủ từ lâu mới có chương trình kêu gọi và hỗ trợ nhanh chóng có được 500.000 doanh nghiệp Việt tại Việt Nam; và ngày càng nhiều cơ quan báo chí, tổ chức thực hiện các dự án, diễn đàn về "tuổi trẻ lập nghiệp", "giới trẻ làm giàu", "làm giàu không khó", "làm giàu không dễ"...
Xét một cách khách quan, ngay cả khi sẽ có không ít bạn trẻ rơi vào tình thế khó khăn, thậm chí phải giải thể vì thiếu vốn hoặc thiếu kinh nghiệm, kỹ năng,... thì họ vẫn rất đáng hoan nghênh, bởi đã dám dấn thân sớm, dám đối mặt hiểm nguy, dám đánh đổi.... Khi ta còn trẻ, ta còn nhiều cơ hội để làm lại, lấy thất bài là bài học đáng giá nhất để tiếp tục tranh đấu. Có thể nói là ngay cả với những trường hợp thất bại này, thì đó cũng có thể xem là tấm gương lớn cho vô số bạn trẻ và thậm chí là cả bạn... già hơn khác. Vì sao ? Vì quá nhiều bạn trẻ ngày nay có điều kiện lại thích "dấn thân" vào con đường ăn chơi, bia rượu, trai gái, nhảy nhót, thuốc lắc... Vì quá nhiều "người lớn" ngày nay bằng lòng với cuộc sống thực tại, với "kiếp làm thuê". Vì quá nhiều người luôn mặc cảm tự ti, luôn lo khó trước khổ sau. Vì quá nhiều người chỉ cần thất bại một lần, thì suốt đời đành đầu hàng số phận….
Khi bạn thành lập doanh nghiệp, ngay cả trong ngắn hạn (trong trường hợp gặp rủi ro), thì ích nước lợi nhà mà các bạn đem lại cũng không hề nhỏ. Này nhé, bạn đóng phí đăng ký kinh doanh cho Sở KH&ĐT, đóng phí làm dấu cho Sở Công An, bạn nộp thuế môn bài vào Kho bạc, bạn nộp phí mua hóa đơn vào Chi cục Thuế, bạn đóng tiền cho cơ quan báo chí để đăng bố cáo thành lập, bạn tiết kiệm chi tiêu không cần thiết, bạn không la cà chơi nhởi lung tung, bạn đầu tư những thứ thiết yếu cho công việc, bạn tranh thủ lấy hóa đơn VAT - không để các công ty khác "lách" thuế dễ dàng, bạn có thể tạo công ăn việc làm cho người khác v.v… Hơn thế nữa, các bạn trẻ dù vốn ít, cũng có thể lập công ty triển khai những dịch vụ đặc thù rất có ích cho các doanh nghiệp, cá nhân khác – cũng là cách mà ngay cả nền kinh tế số 1 thế giới là Mỹ đã và đang tiếp tục hình thành phát triển hàng vạn công ty dịch vụ nhỏ như thế. Càng nghĩ càng thấy khâm phục nhiều bạn trẻ ngày nay, đặc biệt các bạn chưa đến tuổi 22 ở đất Sài Thành. Mới thấy rõ thực tế tốt đẹp chứ không chỉ còn hô hào suông như trước, rằng: lập nghiệp không chỉ - không cần - và không phải duy nhất mỗi con đường vào Đại Học ! Vậy nên, dù là hiện tượng hay xu hướng mới, thì đều đáng quan tâm ủng hộ…

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

RẮC RỐI TRỢ CẤP THÔI VIỆC Trách nhiệm thuộc doanh nghiệp cuối cùng

Sau bài viết Rắc rối trợ cấp thôi việc đăng trên Báo Người Lao Động ngày 11-10 nhiều bạn đọc thắc mắc về quy định trợ cấp thôi việc. Bà Nguyễn Thị Dân, Trưởng Phòng Lao động - Tiền lương - Tiền công Sở LĐ-TB-XH TPHCM, nói rõ thêm về vấn đề này



Người lao động tại SPT mỏi mòn chờ trợ cấp thôi việc. Ảnh: BẢO NGHI

Phóng viên: Hiện nay, quy định trợ cấp thôi việc (TCTV) được tính như thế nào?
- Bà Nguyễn Thị Dân: Kể từ ngày 1-1-2009, khi chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) có hiệu lực, chế độ TCTV cũng thay đổi. Theo đó, tại khoản 2 điều 41 Nghị định 127/CP của Chính phủ quy định thời gian người lao động (NLĐ) thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động (HĐLĐ) với người sử dụng lao động mà không phải đóng BHTN thì được tính để xét hưởng TCTV, trợ cấp mất việc. Như vậy, thời gian để tính TCTV là tổng thời gian làm việc thực tế tại doanh nghiệp (DN) trừ thời gian đã đóng BHTN.
NLĐ làm việc ở nhiều công ty Nhà nước chuyển công tác trước ngày 1-1-1995 thì đơn vị nào trả TCTV?
- NLĐ làm việc ở nhiều công ty Nhà nước do chuyển công tác trước ngày 1-1-1995,  thời gian làm việc để tính TCTV là tổng thời gian đã làm việc cho các công ty Nhà nước. Tiền lương làm căn cứ tính TCTV cho NLĐ ở từng DN là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ ở công ty Nhà nước cuối cùng. Công ty Nhà nước cuối cùng có trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền TCTV cho NLĐ, kể cả phần TCTV thuộc trách nhiệm chi trả của công ty Nhà nước mà NLĐ đã làm việc trước khi chuyển công tác trước ngày 1-1-1995, sau đó gửi thông báo yêu cầu hoàn trả số tiền đã được chi trả hộ.
Bà có thể nói rõ hơn hướng dẫn của Bộ Tài chính về vấn đề này? Nếu DN cuối cùng gửi thông báo mà DN trước đó không trả thì sao?
- Bộ Tài chính chỉ hướng dẫn việc hoàn trả TCTV cho công ty Nhà nước cuối cùng đã chi hộ cho công ty Nhà nước mà NLĐ đã làm việc do chuyển công tác trước ngày 1-1-1995 nhưng đã giải thể tại thời điểm công ty Nhà nước cuối cùng giải quyết TCTV. Còn đối với công ty Nhà nước vẫn còn tồn tại (mà hiện nay là công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ) hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu thì vẫn có trách nhiệm hoàn trả lại TCTV cho công ty Nhà nước cuối cùng. Trường hợp các DN này không hoàn trả theo quy định thì công ty Nhà nước cuối cùng có thể khởi kiện tại tòa án để được giải quyết theo luật định.
Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách; chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản DN mà NLĐ thôi việc, mất việc thì đơn vị nào có trách nhiệm thanh toán TCTV cho thời gian NLĐ đã làm việc trước đó mà chưa lĩnh TCTV?
- Theo quy định tại điều 31 Bộ Luật Lao động, trong các trường hợp này, người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm giải quyết TCTV, mất việc cho NLĐ khi chấm dứt HĐLĐ.
Quy định TCTV trong Nghị định 44/CP, Thông tư 21 và Thông tư 17 của Bộ LĐ-TB-XH áp dụng như thế nào khi hiện nay không còn 100% DN Nhà nước nữa?
- Tuy hiện nay không còn loại hình DN Nhà nước nhưng trong quá trình tái cơ cấu DN thì vẫn còn loại hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoạt động theo Luật DN. Những DN này vẫn thuộc đối tượng thực hiện theo cách tính TCTV đối với trường hợp NLĐ làm việc ở nhiều công ty Nhà nước do chuyển công tác trước ngày 1-1-1995.
Nhiều lao động đã có quyết định điều động công tác, chuyển công tác từ đơn vị hành chính sự nghiệp sang công ty TNHH, công ty liên doanh, công ty cổ phần thì TCTV được tính như thế nào?
- Theo quy định, kể từ ngày Bộ Luật Lao động có hiệu lực thi hành 1-1-1995 không còn áp dụng chế độ chuyển công tác đối với NLĐ làm việc theo chế độ HĐLĐ. Do đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về TCTV không quy định việc chuyển công tác trong các trường hợp nêu trên. Vì vậy, nếu DN chuyển công tác NLĐ không đúng quy định thì các đơn vị có liên quan cần phối hợp để thống nhất hướng chi trả TCTV cho NLĐ phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
TRƯỜNG HOÀNG thực hiện

Doanh nghiệp "né" trả trợ cấp thôi việc

Làm việc 21 năm, trợ cấp thôi việc… 2 năm!

Chị Văn Mỹ Phương (quận 2 - TPHCM) làm việc tại Kho bạc Nhà nước TPHCM từ năm 1991 đến 2010 thì xin chuyển công tác sang Công ty CP Đầu tư Sen Việt Công Thương (TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai).

Năm 2012, chị Phương nghỉ việc. Công ty CP Đầu tư Sen Việt Công Thương đã trả trợ cấp thôi việc cho thời gian 2 năm làm việc tại công ty, còn thời gian trước đó, công ty không trả với lý do “không phải là đơn vị Nhà nước” và đề nghị chị Phương đến Kho bạc Nhà nước TPHCM để được giải quyết. Chị Phương cho biết: “Thế nhưng khi về đơn vị cũ, tôi được trả lời là không được chi trả do tôi là công chức xin chuyển công tác” - chị Phương bức xúc.

“Kho bạc Nhà nước TPHCM viện dẫn là đơn vị hành chính sự nghiệp nên việc thanh toán trợ cấp thôi việc thực hiện theo Nghị định 46/CP. Họ cho rằng tôi đã có đơn xin chuyển công tác, đơn vị cũng ra quyết định điều động và đơn vị mới đã có quyết định tiếp nhận nên không trả trợ cấp thôi việc. Tôi đã gõ cửa nhiều nơi nhưng vẫn chưa được giải quyết” - chị Phương nói.

Tương tự, ông Lê Xuân Yên, ngụ quận Thủ Đức - TPHCM, cũng đang khiếu nại vì không được trả trợ cấp thôi việc. Năm 1982, ông Yên vào làm việc tại Công ty Kho vận Miền Nam, đến năm 1999 thì được điều động về Công ty CP Đại lý liên hiệp vận chuyển, nay là Công ty TNHH Cảng Phước Long. Năm 2010, ông Yên xin nghỉ việc, Công ty TNHH Cảng Phước Long ra quyết định cho thôi việc với lý do “không đủ sức khỏe để đáp ứng công việc”.

Công ty TNHH Cảng Phước Long cũng đã trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian ông Yên làm việc từ năm 1999 đến năm 2010, còn thời gian trước đó, Công ty TNHH Cảng Phước Long yêu cầu ông Yên về Công ty Kho vận Miền Nam để “đòi”. Tuy nhiên, Công ty Kho vận Miền Nam không thanh toán với lý do ông Yên đã hưởng lương hưu.

“Tại thời điểm tháng 7.2010, tôi nghỉ việc vì lý do sức khỏe chứ không phải nghỉ việc để hưởng hưu trí. Tại sao tôi không được trả trợ cấp thôi việc trong khi nhiều đồng nghiệp của tôi vẫn được trả?” - ông Yên thắc mắc.

Phải trả trợ cấp thôi việc

Về trường hợp của chị Văn Mỹ Phương, bà Nguyễn Thị Dân, Trưởng Phòng Lao động - Tiền lương - Tiền công, Sở LĐTBXH TPHCM, cho biết Kho bạc Nhà nước TPHCM không thể viện dẫn Nghị định 46/CP để không trả trợ cấp thôi việc cho chị Phương vì nghị định này chỉ quy định chế độ hưu trí và trợ cấp thôi việc cho công chức nghỉ việc chứ không có điều khoản nào quy định về chuyển công tác.

Trong trường hợp này, khi tiếp nhận đơn xin chuyển công tác của chị Phương, lẽ ra Kho bạc Nhà nước TPHCM phải hướng dẫn chị Phương làm đơn xin nghỉ việc và trả trợ cấp thôi việc thì mới hợp lý. Đằng này đơn vị lại ban hành quyết định điều động và tiếp đó viện dẫn Nghị định 46/CP để từ chối trả trợ cấp thôi việc cho chị Phương là chưa đúng với quy định của pháp luật.

Trường hợp của ông Lê Xuân Yên, ông Nguyễn Đăng Tiến, Phó Giám đốc BHXH TPHCM, cho biết pháp luật chỉ quy định người lao động nghỉ hưởng chế độ hưu trí hằng tháng thì không được trợ cấp thôi việc. Theo quy định tại Nghị định 44/CP của Chính phủ và Thông tư 17 của Bộ LĐTBXH thì đơn vị cuối cùng là Công ty TNHH Cảng Phước Long có trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, sau đó gửi thông báo yêu cầu các đơn vị trước đó hoàn trả số tiền đã chi trả hộ.
Theo NLĐ

Trợ cấp thôi việc trong công ty TNHH một thành viên Nhà nước


(Chinhphu.vn) - Ông Lê Văn Thất (lethat1986@...) đề nghị hướng dẫn giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động tại Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên Nhà nước.

Ông Thất công tác tại Công ty TNHH một thành viên Nhà nước, thành lập tháng 10/2011, chính thức đi vào hoạt động được 4 tháng, trước đây là Ban quản lý Dự án thuộc một sở trong tỉnh.
Hiện nay, Công ty có trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) theo đúng quy định, thời gian công tác của người lao động là 26 năm (chưa hưởng trợ cấp). Ông Thất muốn được biết Công ty giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động này theo quy định tại Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 hay quy định tại Điều 3 Thông tư 10/2012/TT-BLĐTBXH ngày 26/4/2012?
Luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời ông Thất như sau:
Theo ông Lê Văn Thất trình bày, công ty ông đang làm việc là Công ty TNHH một thành viên Nhà nước thành lập tháng 10/2011, chính thức đi vào hoạt động được 4 tháng, trước đây là Ban quản lý Dự án thuộc một sở trong tỉnh. Như vậy Công ty này được kế thừa tài sản, cơ sở vật chất, đội ngũ viên chức, người lao động và kế thừa nghĩa vụ của Ban Quản lý dự án.
Cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc
Cách tính và chi trả tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt HĐLĐ được quy định tại Điều 2, Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi khoản 3, mục III, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH như sau:
Công thức tính trợ cấp thôi việc ở từng doanh nghiệp:
Tiền trợ cấp thôi việc = Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc  X Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc  X 1/2
Trong đó:
- Tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc (tính theo năm) được xác định theo khoản 3, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 9/5/2003 của Chính phủ, trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ. Trường hợp, tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp tính trợ cấp thôi việc dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau: Từ đủ 1 tháng đến dưới 6 tháng làm tròn thành ½ năm; Từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1 năm.
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).
- Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp mà người lao động chấm dứt HĐLĐ, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm cộng cả thời gian người lao động làm việc cho mình và thời gian làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó để tính trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ cuối cùng.
Đối với công ty Nhà nước thực hiện phương án sắp xếp lại hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu (chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ phần hóa, giao, bán) thì áp dụng theo quy định của Nhà nước đối với các trường hợp này.
Trợ cấp thôi việc đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp
Ngày 20/8/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 91/2010/NĐ-CP quy định chính sách đối với người lao động dôi dư trong công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu hoặc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội làm chủ sở hữu được chuyển đổi từ công ty Nhà nước, công ty thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo quy định về chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên nhưng chưa giải quyết chính sách lao động dôi dư theo Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002, Nghị định số 155/2004/NĐ-CP ngày 10/8/2004, Nghị quyết số 07/2007/NQ-CP ngày 6/2/2007, Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ, nay tiếp tục thực hiện sắp xếp lại theo phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, bao gồm: Cổ phần hóa, giao, bán; Chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên; Chuyển thành đơn vị sự nghiệp; Giải thể, phá sản.
Theo đó, tại khoản 4, Điều 3 và Điều 4 Nghị định này quy định:
- Người lao động dôi dư đang thực hiện HĐLĐ không xác định thời hạn không đủ điều kiện nghỉ việc hưởng lương hưu thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ và được hưởng chế độ như sau:
Trợ cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc (có đi làm, có tên trong bảng thanh toán lương) trong khu vực Nhà nước (công ty 100% vốn Nhà nước; cơ quan hành chính Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; nông, lâm trường quốc doanh), không kể thời gian người lao động đã nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định nhưng thấp nhất cũng bằng 2 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có);
Được hỗ trợ thêm 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm (đủ 12 tháng, số tháng lẻ cộng dồn vào giai đoạn tiếp theo) thực tế làm việc trong khu vực Nhà nước;
Được hưởng 6 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) để đi tìm việc làm.
- Người lao động dôi dư đang thực hiện HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng thì thực hiện chấm dứt HĐLĐ và được hưởng các chế độ sau:
Trợ cấp 1 tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) cho mỗi năm thực tế làm việc trong lĩnh vực nhà nước, không kể thời gian người lao động đã nhận trợ cấp thôi việc, mất việc làm và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.
Trợ cấp 70% tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) ghi trong HĐLĐ cho số tháng còn lại chưa thực hiện hết HĐLĐ đã giao kết, nhưng tối đa cũng không quá 12 tháng; trường hợp mức trợ cấp này thấp hơn mức tiền lương tối thiểu chung tại thời điểm nghỉ việc thì được tính bằng mức tiền lương tối thiểu chung.
Trường hợp ông Lê Văn Thất phản ánh, Công ty TNHH một thành viên Nhà nước nơi ông làm việc đã được thành lập trên cơ sở kế thừa quyền, nghĩa vụ của Ban Quản lý Dự án và mới đi vào hoạt động chính thức, không phải là trường hợp tiếp tục thực hiện sắp xếp lại theo phương án: cổ phần hóa, giao, bán; hoặc chuyển thành công ty TNHH hai thành viên trở lên; hoặc chuyển thành đơn vị sự nghiệp; hoặc giải thể, phá sản. Do đó khi người lao động thôi việc ở Công ty trong giai đoạn này, không thuộc đối tượng áp dụng quy định tại khoản 4, Điều 3 và Điều 4 Nghị định 91/2010/NĐ-CP và hướng dẫn trả trợ cấp cho người lao động dôi dư tại Điều 3 Thông tư 10/2012/TT-BLĐTBXH
Trường hợp này tính và chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 2 Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi khoản 3, mục III, Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH.
Luật sư Trần Văn Toàn
VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội
Topiclaw is the registed brand of Panamax JSC

Cách lập biểu mẫu hoàn thuế

HƯỚNG DẪN CÁCH LẬP TỪNG BIỂU MẪU HOÀN THUẾ

* LẬP VĂN BẢN ĐỀ NGHỊ HOÀN :


- Lập văn bản đề nghị hoàn thuế theo đúng mẫu số 10/GTGT lưu ý các yếu tố cần thiết:


+ Số thuế đề nghị hoàn.


+ Kỳ hoàn thuế: Từ tháng …năm….. đến tháng……năm …..


+ Trường hợp hoàn thuế :


Có số thuế GTGT phải nộp âm liên tục từ tháng ….năm…. Đến tháng …..năm…..


+ Lý do: Ghi cụ thể trường hợp đề nghị hoàn sau :


+ Có số thuế đầu vào liên tục trong 03 tháng chưa được khấu trừ .


+ Đầu tư mới .


+ Sáp nhập , giải thể .....


- Lập bảng tổng hợp theo đúng mẫu, số liệu theo đúng với kê khai hàng tháng. Trường hợp số thuế đề nghị hoàn không đúng với số kê khai tháng, phải có đính kèm văn bản giải trình số chênh lệch , lý do .


- Kê khai đầy đủ chính xác nội dung từng chứng từ vào mỗi dòng theo các cột mục trên các bảng kê


( mẫu 02, 03, 04, 05, bảng kê bộ hồ sơ xuất khẩu) theo đúng trình tự thời gian.





* BẢNG KÊ KHAI TỔNG HỢP SỐ THUẾ GTGT ĐỀ NGHỊ HOÀN:


Cách ghi:


+ Trường hợp tháng trước thời gian đề nghị hoàn thuế , doanh nghiệp có số thuế GTGT nộp thừa thì Doanh nghiệp ghi dòng đầu tiên trong bảng kê khai tổng hợp số thuế GTGT nộp thừa của tháng và ghi rõ số thuế ở cột ( 5 ) thuế lũy kế , để được tính cộng thuế GTGT nộp thừa vào số thuế đề nghị hoàn của kỳ này .





* BẢNG KÊ HÓA ĐƠN , CHỨNG TỪ HÀNG HÓA , DỊCH VỤ BÁN RA :


Mẩu số 02/GTGT


Cách ghi:


+ Bảng kê bán hàng mở từng tháng , ghi theo trình tự thời gian


+ Liệt kê hóa đơn bán ra theo thứ tự không nhảy số ( Hóa đơn hủy vẫn phải liệt kê và ghi rõ hủy )


+ Căn cứ vào số liệu trên bảng kê này , cơ sở tổng hợp, lập tờ khai thuế hàng tháng.


+ Cột (5) mã số thuế của người mua : trường hợp người mua không có mã số thuế thì gạch ngang (-)


Lưu ý: phải ghi đầy đủ ngày/ tháng /năm theo kiểu Việt Nam .








* BẢNG KÊ HÓA ĐƠN CHỨNG TỪ HÀNG HÓA , DỊCH VỤ MUA VÀO
Mẩu số 03/GTGT


Cách ghi:


+ Lập Bảng kê từng tháng , ghi theo thứ tự chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ. Đối với hàng hóa nhập khẩu đã nộp thuế GTGT thì ghi số chứng từ , ngày , tháng của biên lai,chứng từ nộp thuế vào cột “ghi chú”.


+ Trường hợp cơ sở vừa kinh doanh hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT và hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT , căn cứ vào thuế GTGT tổng hợp trên bảng kê của hàng hóa , dịch vụ mua vào Cơ sở tự tính toán phân bổ thuế GTGT đầu vào của hàng hóa , dịch vụ dùng cho hoạt động SXKD hàng hóa , dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ theo quy định để điền vào bảng kê khai thuế GTGT hàng tháng .


Lưu ý: phải ghi đầy đủ ngày/ tháng /năm theo kiểu Việt Nam .





……Riêng đối với hàng hóa , dịch vụ mua vào có sử dụng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì sử dụng bảng kê 05/GTGT này để kê khai .








* BẢNG KÊ CHỨNG TỪ CHỨNG MINH XUẤT KHẨU :


Cách ghi:

+ Tính chất hợp đồng : Mua bán , trao đổi , gia công , ủy thác .


+ Ngày xác nhận sản phẩm xuất khẩu : Ngày Hải Quan xác nhận hàng thực xuất khẩu , ghi tại ô 47 của tờ khai xuất khẩu hàng hóa .


+ Số lượng ở các phần hoá đơn GTGT so với tờ khai hàng XK và nếu có chênh lệch phải có văn bản giải trình cụ thể lý do .


+ Chứng từ thanh toán

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

Điều lệ công ty vô hiệu

Vai trò của bản điều lệ khi có tranh chấp trong nội bộ công ty là như thế nào? Quan hệ của nó với Luật Doanh nghiệp sẽ ra sao trong trường hợp tranh chấp như thế?

Điều lệ công ty, một cách thông thường, vẫn được hiểu là “bản hiến pháp”, là “luật tối cao” trong công ty. Các thành viên sáng lập khi thành lập công ty cũng như các thành viên mới khi gia nhập công ty luôn phải thông qua hoặc cam kết tuân thủ điều lệ – ấn định những nguyên tắc về tổ chức nội bộ, hoạt động, giải thể của công ty, từ đó điều chỉnh các quyền, nghĩa vụ của các thành viên trong công ty.

Xét cho cùng, điều lệ công ty là bản thỏa thuận của các thành viên công ty và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận, do vậy, trong ý nghĩa đó, điều lệ có tính chất như một bản hợp đồng. Một thực tế đời sống và pháp lý đã và đang diễn ra là hợp đồng có thể bị tuyên là vô hiệu (toàn bộ các điều khoản hoặc một phần). Điều lệ công ty cũng tương tự.



Tòa cũng lấn cấn:

Xin được đơn cử một trường hợp dưới đây để làm rõ hơn về vấn đề này.

Công ty TNHH Lâm sản Toàn Thịnh được thành lập ngày 1-2-1992 theo Quyết định số 38/GP-UB của UBND TPHCM có tám thành viên sáng lập. Điều lệ được xây dựng dựa trên Luật Công ty năm 1990.

Từ khi được thành lập đến ngày 8-10-1997 công ty đã bốn lần thay đổi các thành viên công ty, giảm số lượng thành viên xuống còn hai (bà Nguyễn Thị Bích Đào và ông Lê Quang Chiêu), mỗi thành viên góp 50% vốn điều lệ nhưng điều lệ, vốn điều lệ của công ty vẫn không thay đổi.

Trong quá trình hoạt động đến năm 2003, giữa các thành viên với công ty phát sinh mâu thuẫn về việc phân chia lợi nhuận, sau đó các bên không tự giải quyết được, phát sinh tranh chấp và bà Nguyễn Thị Bích Đào đã khởi kiện công ty ra TAND TPHCM để yêu cầu được rút phần vốn góp hoặc chuyển nhượng cho thành viên khác theo giá thỏa thuận, nếu không chuyển nhượng được thì giải thể công ty.

Ông Lê Quang Chiêu – thành viên còn lại của công ty không đồng ý cho bà Nguyễn Thị Bích Đào chuyển nhượng cho người ngoài công ty, cũng không mua và không giới thiệu ai mua.

Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 243/XX-KTST ngày 28-9-2004, TAND TPHCM chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố có trách nhiệm thực hiện việc thay đổi đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp theo quyết định của Tòa án.

Ông Lê Quang Chiêu có đơn kháng cáo. Bản án kinh tế phúc thẩm số 72/KTPT ngày 24-12-2004, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM quyết định bác đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích Đào do căn cứ vào điều lệ công ty (điểm b, điều 7, quy định: “Việc chuyển nhượng phần hùn vốn được ưu tiên thực hiện giữa các thành viên, nếu chuyển nhượng cho người ngoài công ty thì phải được đa số thành viên tiêu biểu ít nhất là 80% vốn công ty ưng thuận”).

Ngày 12-9-2005, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định kháng nghị số 04/KN-AKT kháng nghị bản án phúc thẩm.

Ngày 4-4-2006, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ra Quyết định giám đốc thẩm số 01/2006/KDTM-GĐT tuyên điều 7 điều lệ Công ty Toàn Thịnh vô hiệu do: (i) không còn phù hợp với Luật Doanh nghiệp 1999 về quy định việc chuyển nhượng phần vốn góp kể từ ngày 12-6-2001 và (ii) quy định này không còn khả thi. Quyết định giám đốc thẩm cũng tuyên phần phán quyết của bản án sơ thẩm về việc thay đổi danh sách thành viên góp vốn và yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM có trách nhiệm thực hiện việc thay đổi đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp theo quyết định của tòa án là không có căn cứ vì tòa án chỉ giải quyết việc được hay không được chuyển nhượng vốn ra ngoài công ty, còn chuyển nhượng cho ai, thủ tục chuyển nhượng, thay đổi thành viên là việc của các thành viên với nhau và thuộc thẩm quyền của Sở Kế hoạch và Đầu tư.



Dùng luật để phân tích: Xét về tính hợp pháp của điều 7 điều lệ Công ty Toàn Thịnh:

Theo khoản 2, điều 25 Luật Công ty năm 1990 quy định: “Việc chuyển nhượng phần vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự do. Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác không phải là thành viên phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất ba phần tư số vốn điều lệ của công ty”. Vào thời điểm được thông qua, điều 7 điều lệ của Công ty Toàn Thịnh là phù hợp với Luật Công ty.



Tuy nhiên, năm 1999 Luật Doanh nghiệp đã thay thế Luật Công ty, việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên được thực hiện theo các điều 26, 32 của Luật Doanh nghiệp 1999. Theo đó, Luật Doanh nghiệp 1999 không còn hạn chế việc chuyển nhượng vốn ra ngoài công ty phải có sự đồng ý của nhóm thành viên công ty đại diện cho ba phần tư số vốn điều lệ nữa.



Về thực tế Công ty Toàn Thịnh hiện chỉ còn hai thành viên, vốn góp mỗi người ngang nhau (50/50), quy định của điều lệ liên quan đến tỷ lệ 80% là không thể thực hiện được.

Công ty Toàn Thịnh đã có nhiều thay đổi về thành viên, về tỷ lệ sở hữu phần vốn góp của mỗi thành viên, thay đổi về đăng ký kinh doanh nhưng công ty vẫn không sửa đổi điều lệ cho phù hợp với thực tế và quy định mới của pháp luật.

Hơn nữa, điều 123 Luật Doanh nghiệp 1999 cũng đã có quy định: “Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có điều lệ không phù hợp với quy định của luật này, thì công ty đó phải sửa đổi, bổ sung điều lệ trong thời hạn hai năm, kể từ ngày luật này có hiệu lực. Trường hợp quá thời hạn này mà điều lệ công ty không được sửa đổi, bổ sung, thì điều lệ đó bị coi là không hợp lệ”.

Do vậy, giải quyết tranh chấp giữa các thành viên trong công ty về việc thay đổi thành viên và chuyển nhượng phần vốn góp trong Công ty Toàn Thịnh phải căn cứ vào Luật Doanh nghiệp 1999, chứ không thể căn cứ vào điều lệ của công ty.

Như vậy, quan điểm của Tòa án Việt Nam là khi các thành viên (cổ đông) của một công ty tranh chấp thì phải căn cứ vào bản điều lệ của công ty trước, nếu điều lệ chưa quy định thì áp dụng các quy định của Luật Doanh nghiệp nói riêng và pháp luật nói chung. Tuy nhiên, nếu điều lệ của công ty trái với quy định của Luật Doanh nghiệp (pháp luật) hiện hành thì áp dụng quy định tại Luật Doanh nghiệp.

Vấn đề ở đây đặt ra là các công ty phải thường xuyên cập nhập những thay đổi của pháp luật nói chung và Luật Doanh nghiệp nói riêng vào điều lệ của mình để tránh những rủi ro về pháp lý khi điều lệ công ty bị tuyên là vô hiệu.

Phần vốn góp: Cam kết hay góp thực

Câu chuyện thực tế: 
 Tháng 12-2010, công ty TNHH X (gọi tắt là công ty X) tổ chức cuộc họp hội đồng thành viên. Lấy lý do ông A chưa góp đủ phần vốn đã cam kết nên các thành viên góp vốn còn lại giảm số phiếu biểu quyết của ông A.
Cơ sở pháp lý được các thành viên công ty X đưa ra là điều 18.3 của Nghị định 102/2010 ngày 1-10-2010 hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định 102), theo đó “trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác”.
Ông A không chấp nhận cách làm này vì cho rằng ngay cả khi ông chưa góp đủ phần vốn của mình thì ông vẫn có số phiếu biểu quyết như đã góp đủ. Và khi công ty chia lợi nhuận ông vẫn được nhận theo tỷ lệ vốn ông đã cam kết góp thì không có lý gì bây giờ công ty lại hạn chế quyền lợi của ông. Những quy định gây tranh cãi Theo quy định tại điều 41 của Luật Doanh nghiệp 2005, các quyền của thành viên góp vốn trong công ty TNHH đều dựa trên phần vốn góp của mỗi thành viên, tức là dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên công ty TNHH góp vào vốn điều lệ.
Có thể thấy rằng từ Luật Doanh nghiệp 2005 đến Nghị định 102, khái niệm vốn điều lệ trong công ty TNHH hai thành viên trở lên đều được hiểu thống nhất là số vốn thực góp hoặc cam kết góp của các thành viên trong một thời hạn cụ thể và đã được ghi vào điều lệ công ty. Như vậy, quyền của các thành viên góp vốn trong công ty TNHH sẽ được dựa trên tỷ lệ vốn mà thành viên góp vào số vốn đã được ghi vào điều lệ công ty.
Lấy ví dụ:
Công ty TNHH Y gồm có hai thành viên với vốn điều lệ đăng ký là 200 tỉ trong đó thành viên B cam kết góp 100 tỉ và C cam kết góp 100 tỉ. Tại thời điểm tổ chức họp hội đồng thành viên: B đã góp được 40 tỉ và C đã góp được 50 tỉ. Như vậy, phần vốn góp của B và C có thể sẽ được xác định theo một trong hai cách sau:
Cách 1: B chiếm 40/200 (20%) và C chiếm 50/200 (25%); hay
Cách 2: B chiếm 100/200 (50%) và C chiếm 100/200 (50%).
Bản thân Luật Doanh nghiệp khi đưa ra khái niệm “phần vốn góp” để từ đó làm cơ sở xác định phạm vi quyền của thành viên cũng không nói cụ thể đó là tỷ lệ sở hữu của thành viên dựa trên số vốn đã góp hay cam kết góp, mà chỉ đơn giản dùng một chữ “góp”.
Như vậy, sự không rõ ràng dẫn đến những cách hiểu khác nhau thật ra đã xuất phát từ những quy định của Luật Doanh nghiệp chứ không phải đợi đến khi có sự ra đời của Nghị định 102. Cho nên theo quan điểm cá nhân của người viết, Nghị định 102 khi quy định “trong thời hạn chưa góp đủ số vốn theo cam kết, thành viên có số phiếu biểu quyết và được chia lợi tức tương ứng với tỷ lệ số vốn thực góp, trừ trường hợp điều lệ công ty quy định khác” suy cho cùng chỉ là một hướng hiểu như cách 1 ở trên khi xác định phần vốn góp chứ không phải là sự mâu thuẫn hay đi ngược lại quy định của Luật Doanh nghiệp.

Hiểu thế nào cho chính xác?
Thứ nhất, phần vốn góp của công ty TNHH nên tính là tỷ lệ số vốn cam kết góp trong vốn điều lệ của công ty vì nếu theo nguyên tắc công bằng, quyền và nghĩa vụ phải tương xứng với nhau thì quyền của thành viên công ty TNHH phải ngang bằng với nghĩa vụ mà thành viên gánh chịu.
Cam kết thực chất là nghĩa vụ của thành viên đối với công ty. Vốn điều lệ của công ty TNHH, phần vốn góp và tỷ lệ góp vốn của thành viên đã được xác định trong điều lệ công ty, việc thành viên góp hết một lần hay góp bao nhiêu lần, mỗi lần bao nhiêu chỉ là vấn đề thời gian và tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các thành viên. Chính vì vậy số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đối với công ty nếu thành viên không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết và thành viên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết.
Không có lý gì thành viên công ty TNHH phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp nhưng lại chỉ có quyền trên số vốn ít hơn do chưa góp đủ. Nếu thành viên công ty TNHH chỉ có quyền biểu quyết trên số vốn thực góp, đồng nghĩa là tiếng nói của thành viên công ty TNHH khi thảo luận, biểu quyết những vấn đề của công ty bị yếu đi, tức trách nhiệm của thành viên công ty TNHH đối với phương án hoạt động kinh doanh của công ty giảm đi. Vậy tại sao thành viên công ty TNHH vẫn phải chịu trách nhiệm tài sản lớn hơn phần trách nhiệm từ hành vi thực tế (biểu quyết) của thành viên công ty TNHH?
Thứ hai, phần vốn góp của thành viên công ty TNHH nên tính là số vốn cam kết góp vì nó sẽ ảnh hưởng đến các quy định về điều kiện tiến hành họp và thông qua quyết định của hội đồng thành viên của công ty. Nếu áp dụng cách hiểu phần vốn góp của thành viên được dựa trên số vốn thực tế đã góp, e rằng rất nhiều công ty TNHH phải đợi đến lần họp thứ hai hay thứ ba mới đủ điều kiện tiến hành vì số thành viên dự họp lần đầu khó mà đáp ứng điều kiện đã góp đủ 75% vốn điều lệ của công ty. Tương tự, đối với trường hợp quyết định của hội đồng thành viên được thông qua khi được số phiếu đại diện ít nhất 65% hoặc 75% tổng số vốn góp của các thành viên dự họp chấp thuận, nếu thành viên chỉ có quyền biểu quyết trên số vốn thực góp có lẽ quyết định của hội đồng thành viên cũng khó mà thông qua được.
Thứ ba là đặc trưng của công ty TNHH là một công ty có sự kết hợp hài hòa các đặc điểm ưu việt của cả hai mô hình công ty đối nhân và đối vốn. Chịu ảnh hưởng của mô hình công ty đối nhân, thành viên công ty TNHH thường là những người có mối quan hệ, quen biết với nhau do đó việc cùng nhau hợp tác thành lập doanh nghiệp dựa trên niềm tin, và vì lẽ đó mà việc một hay tất cả các thành viên “cam kết” góp vốn trong một thời hạn nhất định dễ dàng nhận được sự chấp thuận.

Thực tiễn áp dụng pháp luật
Từ trước khi Nghị định 102 ra đời, mọi người đã quen với việc xác định phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH dựa trên tỷ lệ số vốn cam kết góp mà không chú ý rằng Luật Doanh nghiệp cũng không có quy định nào nói cụ thể phần vốn góp là tỷ lệ số vốn “cam kết góp”.
Do vậy, rất nhiều biên bản họp hội đồng thành viên đều ghi nhận số phiếu biểu quyết theo tỷ lệ vốn cam kết góp của thành viên, dù rằng thành viên đó thực sự chưa góp một đồng nào. Trước ngày 15-11-2010, hiện tượng này là phổ biến và thực tế cũng không vấp phải sự cản trở nào từ cơ quan đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, sau ngày Nghị định 102 có hiệu lực thi hành, có thể các biên bản họp như thế sẽ không được chấp thuận nếu áp dụng điều 18.3 của Nghị định 102 và nếu “điều lệ công ty không có quy định khác”.
Do vậy, khi soạn thảo điều lệ công ty, cần lưu ý các quyền biểu quyết, hưởng lợi tức của thành viên được tính dựa trên phần vốn thực góp theo Nghị định 102 hay theo phần vốn cam kết góp. Việc này hoàn toàn nằm trong tầm tay của những người soạn thảo điều lệ, tuy nhiên băn khoăn của người viết không phải ở chỗ cách đối phó với những quy định của Nghị định 102 mà làm thế nào để có cách hiểu thống nhất về phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH. Thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần có một hướng dẫn phù hợp về nội dung này để tránh những xung đột khó giải quyết như trường hợp của công ty X.

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

Vốn tự có và phương thức tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại

post-309-1072055226 Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong qúa trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. 
Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý ngân hàng, vốn tự có của ngân hàng được chia làm hai loại: 
 - Vốn tự có cơ bản bao gồm vốn điều lệ (vốn ngân sách cấp, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, lợi nhuận không chia và các khoản khác (các tài sản nợ khác theo qui định của ngân hàng nhà nước). 
- Vốn tự có bổ sung bao gồm vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi. Theo quy định của các cơ quan quản lý ngân hàng, thì vốn tự có bổ sung không được vượt qúa 50% vốn tự có cơ bản (Mỹ và Pháp). 
Ở VN, theo Luật các tổ chức tín dụng, vốn tự có bao gồm phần giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. 
Đặc điểm của vốn tự có 
° Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong qúa trình hoạt động của ngân hàng. 
° Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%), tuy nhiên nó lại giữ một vai trò rất quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng. 
° Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, cụ thể vốn tự có là cơ sở để xác định giới hạn huy động vốn của ngân hàng. Nó còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn trong kinh doanh ngân hàng (Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 thì một ngân hàng không được phép huy động vốn qúa 20 lần so với vốn tự có vì nó ảnh hưởng đến năng lực chi trả của ngân hàng). 
Theo luật các tổ chức tín dụng của VN, một ngân hàng khi cho vay đối với một khách hàng thì tổng dư nợ cho vay cao nhất không được phép vượt qúa 15% vốn tự có của ngân hàng. 
Chức năng của vốn tự có 
° Chức năng bảo vệ: 
 Trong hoạt đông kinh doanh có rất nhiều rủi ro, những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn cho ngân hàng, đôi khi nó có thể dẫn ngân hàng đến chỗ phá sản. Khi đó vốn tự có sẽ giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh và đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên. 
Trong một số trường hợp ngân hàng mất khả năng chi trả thì vốn tự có sẽ được sử dụng để hoàn trả cho khách hàng. 
 Ngoài ra, do mối quan hệ hỗ tương giữa ngân hàng với khách hàng, vốn tự có còn có chức năng bảo vệ cho khách hàng không bị mất vốn khi gửi tiền tại ngân hàng. 
° Chức năng hoạt động: 
 Thể hiện ở chỗ vốn tự có có thể được sử dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. Vì vậy chức năng hoạt đông ở đây cũng chỉ là thứ yếu. 
° Chức năng điều chỉnh: 
Vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thường hướng vào đó để ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định tính an toàn (ví dụ như các ngân hàng không được đầu tư vào tài sản cố định vượt qúa 50% vốn của ngân hàng). Vốn tự có còn là căn cứ để xác định và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an toàn trong kinh doanh. 
Phương pháp tăng vốn tự có 
° Nguồn bên ngoài: 
 - Phát hành cổ phiếu thường: 
Ưu điểm: Không phải hoàn trả cho người mua cổ phiếu, cổ tức của cổ phiếu thường không phải là gánh nặng về tài chính cho ngân hàng trong những năm làm ăn thua lỗ. Phương pháp này làm tăng quy mô vốn nên cũng làm tăng khả năng vay nợ của ngân hàng trong tương lai. 
Nhược điểm: Chi phí cao và có thể làm loãng quyền sở hữu ngân hàng (Dulution), giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu (Earning per share), làm giảm tỷ lệ đòn bẩy tài chính mà ngân hàng có thể tận dụng. 
tranhu1
- Phát hành cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn: 
Ưu điểm: Không phải hoàn trả vốn và không làm phân tán quyền kiểm soát ngân hàng, tăng khả năng vay nợ của ngân hàng trong tương lai. 
Nhược điểm: Cổ tức phải trả cho các cổ đông là gánh nặng tài chính trong những năm ngân hàng bị thua lỗ, chi phí phát hành cao, giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu. 
- Phát hành giấy nợ thứ cấp (thời hạn tối thiểu 7 năm): 
Ưu điểm: Chi phí thấp và không làm phân tán quyền kiểm soát của ngân hàng. Đây là phương pháp hiệu qủa vì trái phiếu này được các nhà đầu tư ưa chuộng trên thị trường. 
Nhược điểm: Phải hoàn trả cho người mua trái phiếu khi đến hạn, lãi trả cho trái phiếu là gánh nặng cho ngân hàng về tài chính. 
Ngân hàng còn có thể thực hiện các biện pháp tăng vốn từ nguồn bên ngoài khác như bán tài sản và thuê lại, chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu... 
° Nguồn bên trong: 
Chủ yếu do tăng lợi nhuận giữ lại. Đây là lợi nhuận ngân hàng đạt được trong năm, nhưng không chia cho các cổ đông mà giữ lại để tăng vốn. 
Ưu điểm: Không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền kiểm soát ngân hàng và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp ngân hàng không phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn. 
Hạn chế: Chỉ áp dụng với các ngân hàng lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. 
Phương pháp này phụ thuộc vào: 
 a) Chính sách cổ tức của ngân hàng: Chính sách này cho biết ngân hàng cần phải giữ lại bao nhiêu thu nhập để tăng vốn phục vụ cho mở rộng kinh doanh và bao nhiêu thu nhập sẽ được chia cho các cổ đông. Ta có: 
 Tỷ lệ thu nhập giữ lại
(Lợi nhuận không chia) 

Mức thu nhập giữ lại 
Thu nhập sau thuế 

Tỷ lệ chi trả cổ tức   = 
Tổng giá trị cổ tức 
Thu nhập sau thuế 
Tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn ngân hàng sẽ chậm, dẫn đến giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản. Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng bị giảm. 
 b) Tốc độ tăng vốn từ nguồn nội bộ: Một tỷ lệ tăng trưởng vốn từ nguồn nội bộ lý tưởng phải đáp ứng cả hai yêu cầu: Một là, ngân hàng tăng trưởng được tài sản có (đạc biệt là các khoản cho vay); Hai là, không làm suy giảm quá mức tỷ số vốn/tài sản của ngân hàng. 
Bài viết sưu tầm trên tapchiketoan.com

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

Vốn điều lệ của công ty từ quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP

Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời tạo nên một luồng sinh khí mới cho nền thương nghiệp nước nhà. Trên cơ sở đó, Nghị định 139/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của luật này được ban hành. Sau ba năm thực hiện, ngày 01/10/2010 Chính phủ ban hành Nghị định 102/2010/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 139/2007/NĐ-CP. Được ban hành sau hơn bốn năm thực thi Luật Doanh nghiệp, Nghị định 102/2010/NĐ-CP mang đến niềm hi vọng sẽ có những hướng dẫn tích cực trong việc thi hành Luật Doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực tế, vấn đề tài chính của công ty - mà chủ yếu là vốn của công ty (bao hàm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) - được hướng dẫn bởi Nghị định cần phải được xem xét lại trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.


1. Bản chất của vốn góp
Góp vốn là việc thành viên công ty chuyển tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các đồng sở hữu công ty. Trên thực tế, việc góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ tạo nên quy chế pháp lý khác nhau đối với người góp vốn. Với vai trò là đạo luật ghi nhận các mô hình kinh doanh, việc tạo lập nên sự phong phú của các mô hình là một điều cần thiết cho các lựa chọn khởi nghiệp. Trong một chừng mực nào đó, Luật Doanh nghiệp 2005 đã thành công trong việc đa dạng hoá các lựa chọn này. Ước mơ khởi nghiệp của người Việt được trân trọng khi nhà làm luật Việt Nam đã ghi nhận hầu hết những mô hình doanh nghiệp phổ biến của thế giới. Một trong những loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất bởi các nhà kinh doanh là mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty cổ phần (CTCP). Câu hỏi đặt ra là hai loại hình này có ưu điểm gì mà được sự ưu ái trên?

1.1.Vốn điều lệ của công ty TNHH
Nếu nhìn nhận từ góc độ của truyền thống luật Châu Âu lục địa, người ta thừa nhận rằng công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp kết hợp sự “ưu việt” của mô hình công ty đối nhân và công ty đối vốn. Kết quả của sự kết hợp này là, công ty TNHH mang trong mình bản chất của một công ty “đóng” như việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên cho người không phải là thành viên của công ty bị hạn chế, việc phát hành cổ phần bị cấm đoán1... Tóm lại, có thể nói mô hình công ty TNHH là mô hình dành cho việc kinh doanh có qui mô vừa và nhỏ. Xuất phát từ đó, vốn điều lệ của công ty TNHH được đặc trưng bởi:
Thứ nhất: vốn điều lệ được xác định bởi con số mà các thành viên công ty góp hoặc cam kết góp vốn. Trong so sánh với CTCP, vốn điều lệ của công ty TNHH là con số “thực”. Nói cách khác với hành vi góp vốn, số vốn do các thành viên góp trở thành vốn của công ty và được ghi nhận vào điều lệ của công ty. Sự khác biệt giữa việc thực góp và cam kết góp chỉ là yếu tố thời gian. Việc hoàn thành hành vi góp vốn theo cam kết góp vốn được thực hiện tại một thời điểm trong tương lai. Theo điều 41 Luật Doanh nghiệp, nghĩa vụ của thành viên là phải thực hiện đúng cam kết góp vốn.
Thứ hai: theo phân tích trên, mặc dù công ty TNHH có vốn là một con số xác định và người ta có thể xác định được dễ dàng phần vốn góp của mỗi thành viên công ty là bao nhiêu nhưng luật cũng cho phép tình trạng “nợ” vốn trong công ty TNHH.
Ví dụ: Công ty TNHH A có ba thành viên X, Y, Z, có vốn điều lệ là một tỷ đồng. Như vậy, mặc dù có thể thành viên công ty chưa tiến hành việc góp vốn vì chưa đến hạn phải góp theo cam kết nhưng con số một tỷ đồng trên vẫn được xác định là vốn điều lệ của công ty và nó được coi là bảo đảm cho việc trả nợ của công ty với các bên thứ ba. Nếu như có bất kỳ một thiệt hại nào đối với bên thứ ba thì số vốn một tỷ đồng trên sẽ là tài sản trả nợ, đồng thời cũng sẽ rất dễ dàng xác định phần trách nhiệm mà mỗi thành viên công ty phải chịu theo cam kết góp vốn2.
Tóm lại, trong công ty TNHH, người ta phải xác định một cách rõ ràng số vốn mà công ty có để làm cơ sở xác định trách nhiệm của công ty với bên thứ ba. Nhưng cũng xuất phát từ bản chất là một công ty “đóng” nên việc lựa chọn thời điểm hoàn thành việc góp vốn thuộc quyền định đoạt của các thành viên.
1.2. Vốn điều lệ của CTCP
Về mặt lý luận, người ta thừa nhận CTCP là loại hình công ty “mở”. Vốn điều lệ của công ty cũng phải được xác định từ đầu và phải được ghi vào trong điều lệ của công ty. Nhưng có sự khác biệt giữa vốn điều lệ của CTCP và vốn điều lệ của công ty TNHH. Nếu như vốn điều lệ của công ty TNHH là một con số “thực” thì vốn điều lệ trong CTCP khi mới thành lập công ty có phần nào đó mang tính “ảo”. Cụ thể: Điều 84 Luật Doanh nghiệp qui định: “Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Điều đó có nghĩa là, nếu như vốn điều lệ của công ty là một tỷ đồng thì theo yêu cầu của Điều 84 Luật Doanh nghiệp, các cổ đông sáng lập chỉ cần góp hoặc cam kết góp 200 triệu đồng (giả định rằng công ty chỉ phát hành cổ phần phổ thông) mà không phải là toàn bộ số vốn điều lệ. Như vậy, ta thấy có một “khoảng trống” giữa số vốn điều lệ của công ty và phần vốn mà các cổ đông sáng lập đăng ký mua. Phần vốn còn thiếu không phải là kết quả của một toan tính gian dối trong quá trình vi phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh mà nó trở thành một quyền đặc trưng của CTCP trong việc huy động vốn: quyền bán cổ phần có quyền chào bán. Nói cách khác, các cổ đông sáng lập “kê khai” vốn của công ty là một tỷ đồng và đã được cơ quan đăng ký kinh doanh ghi nhận điều này vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nhưng các cổ đông không thực hiện hết thì phần vốn còn thiếu được nhìn nhận là một phần không tách rời của số vốn kê khai ở trên. Tuy vậy, việc huy động phần vốn còn “thiếu” kia không phải là không có thời hạn. Giới hạn luật định trong trường hợp này là ba năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau ba năm mà công ty không huy động đủ số vốn đã đăng ký thì công ty phải giảm vốn điều lệ tương ứng với phần vốn mà công ty thực tế huy động được.
Sự khác biệt về vốn điều lệ giữa CTCP và công ty TNHH xuất phát từ sự khác biệt giữa hai mô hình doanh nghiệp. Về mặt lý luận, chúng ta thừa nhận CTCP là một công cụ huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội. Điều đó được thể hiện ở chỗ mệnh giá cổ phần thường là rất thấp (đối với các công ty niêm yết là 10 ngàn đồng). Từ đó, người ta có thể dễ dàng đầu tư vào CTCP thông qua việc mua một hoặc một số cổ phần tuỳ theo khả năng tài chính của họ. Đồng thời, nguyên tắc tách bạch giữa sở hữu và quản lý trong công ty tạo nên sự tính chuyên nghiệp cũng như hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng vốn của công ty. Điều đó thể hiện ở chỗ, cổ đông là người thành lập công ty nhưng việc quản lý thì được giao cho giám đốc và hội đồng quản trị, những người chuyên nghiệp trong quản trị hoặc có kiến thức sâu về lĩnh vực hoạt động của công ty3. Thông qua quá trình điều hành doanh nghiệp, những nhà quản lý - mà cụ thể là hội đồng quản trị - sẽ là người biết rõ về nhu cầu vốn của công ty cũng như khả năng thu hút vốn đầu tư của công ty sẽ quyết định việc phát hành cổ phần có quyền chào bán để đáp ứng cho nhu cầu về vốn đó.
Qui định “mở” như trên là phù hợp với bản chất CTCP. Về nguyên tắc, cổ đông sáng lập có quyền quyết định số vốn điều lệ của công ty. Nhưng mặt khác, họ chỉ góp vốn vào công ty dựa trên khả năng tài chính của các cổ đông hiện hữu và nhu cầu về vốn của công ty. Do đó, việc thừa nhận cổ phần có quyền chào bán tạo nên sự thuận lợi cho CTCP khi thực hiện việc huy động vốn từ công chúng mà không cần phải thông qua các thủ tục hành chính với cơ quan đăng ký kinh doanh. Thêm nữa, cơ hội huy động vốn cổ phần từ công chúng của một công ty mới thành lập dường như là một yêu cầu không khả thi. Thời gian ba năm cho cổ phần có quyền chào bán cũng là khoảng thời gian cần cho công ty trong việc gây dựng niềm tin cho các nhà đầu tư để thu hút vốn đầu tư từ họ.
2. Hướng dẫn của Nghị định 102/2007/NĐ-CP
Nhận xét chung là Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã can thiệp rất sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Trong chủ đề về vốn điều lệ đang được khảo cứu ở đây, có nhiều hướng dẫn khá hợp lý. Nhưng những vấn đề chưa được giải quyết trong Nghị định 139/2007/NĐ-CP thì trong Nghị định 102/2010/NĐ-CP cũng vẫn còn bỏ ngỏ.
2.1. Vốn điều lệ của công ty TNHH
Không có nhiều thay đổi về vốn của công ty TNHH theo hướng dẫn của 102/2010/NĐ-CP, ngoại trừ hai điểm sau:
Theo qui định của Luật Doanh nghiệp, nghĩa vụ góp vốn của thành viên công ty được xác định theo cam kết góp vốn. Tuy vậy, Luật Doanh nghiệp không hề có một giới hạn về mặt thời gian nào cho việc hoàn thành nghĩa vụ góp vốn. Nói cách khác, thời hạn để thành viên góp vốn vào công ty là không hạn chế mà thời hạn này dài hay ngắn phụ thuộc vào thỏa thuận góp vốn giữa các thành viên công ty. Cụ thể, nghĩa vụ của thành viên là phải “Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty”4. Nhưng ngay cả trong trường hợp thành viên không thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn thì khoản vốn chưa góp được xem là khoản nợ của thành viên đối với công ty5.
Tuy vậy, theo qui định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP, thời hạn để thành viên hoàn thành nghĩa vụ góp vốn là 36 tháng kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp6. Đây là hướng dẫn hợp lý. Kết quả là với hướng dẫn này, Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã tạo cơ sở cho việc chấm dứt tình trạng nợ vốn không thời hạn của thành viên công ty TNHH.
Nhưng có một tồn tại chưa được giải quyết trong Nghị định 139/2007/NĐ-CP thì đến 102/2010/NĐ-CP vẫn còn đang bỏ ngỏ. Đó là việc giảm vốn điều lệ của công ty TNHH có được đặt ra hay không khi thành viên không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn theo cam kết?
Việc một thành viên không hoàn thành nghĩa vụ góp vốn được nhìn nhận ở hai hành vi: Thành viên không hề tiến hành việc góp vốn hoặc có thể chỉ góp một phần theo cam kết góp vốn. Theo đó, giải pháp của Luật Doanh nghiệp, theo khoản 3 Điều 39 là: “Sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn có thành viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp được xử lý theo một trong các cách: i) Một hoặc một số thành viên nhận góp đủ số vốn chưa góp; ii) Huy động người khác cùng góp vốn vào công ty; iii) Các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công ty”
Nhưng trong trường hợp không xử lý theo cả ba cách trên, nói cách khác không huy động đủ số vốn điều lệ thì luật bỏ ngỏ. Nếu căn cứ theo khoản 6 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp: “vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty” thì chưa đủ cơ sở pháp lý để khẳng định nghĩa vụ phải đăng ký giảm vốn điều lệ của công ty TNHH trong trường hợp này, mặc dù về mặt lý luận chúng ta thừa nhận khả năng này. Ngay cả Điều 60 Luật Doanh nghiệp qui định các trường hợp giảm vốn điều lệ của công ty cũng không hề thừa nhận trường hợp giảm vốn điều lệ trong trường hợp không huy động đủ số vốn điều lệ theo cam kết góp vốn của các thành viên.
2.2. Vốn điều lệ của CTCP
Như phân tích ở trên, Luật Doanh nghiệp thừa nhận tình trạng vốn “ảo” của CTCP trong thời hạn ba năm đầu kể từ ngày doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nhưng đến hướng dẫn của Nghị định 102/2010/NĐ-CP, theo khoản 4 Điều 6, đã có sự khác biệt khá lớn với những gì mà chúng ta vừa đề cập ở trên: “Vốn điều lệ của CTCP là tổng giá trị mệnh giá số cổ phần đã phát hành. Số cổ phần đã phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty. Tại thời điểm đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của CTCP là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty; số cổ phần này phải được thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”. Theo đó, sẽ không còn tình trạng nợ 80% vốn điều lệ theo qui định của Luật Doanh nghiệp. Hướng dẫn này tạo nên hai mâu thuẫn về mặt lý luận:
Một là hướng dẫn này trái với qui định của Điều 84 Luật Doanh nghiệp, thừa nhận tình trạng nợ 80% vốn điều lệ của loại hình CTCP7.
Hai là với hướng dẫn này, Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã xoá nhoà ranh giới phân định sự khác biệt đặc trưng giữa công ty TNHH và CTCP. Bởi vì trong công ty TNHH, vốn điều lệ của công ty hình thành trên cơ sở số vốn thành viên công ty góp hoặc cam kết góp. Nói cách khác, chủ sở hữu phần vốn này đã được xác định ngay từ khi cam kết góp. Trong khi đó, vốn điều lệ của CTCP do các cổ đông sáng lập tự thỏa thuận và ghi vào điều lệ của công ty. Nhưng các cổ đông sáng lập có thể mua hoặc không mua hết vốn điều lệ. Nói cách khác, vốn điều lệ của CTCP, trong trường hợp cổ đông sáng lập chỉ đăng ký con số tối thiểu là 20% cổ phần phổ thông theo qui định của Luật Doanh nghiệp, bao hàm cả phần sở hữu được xác định cụ thể cho từng cổ đông sáng lập và một phần (lớn) chưa được xác định. Chúng ta gọi phần chưa xác định này là cổ phần có quyền chào bán. Đến lúc này, bất cứ người nào, không rơi vào các trường hợp bị cấm góp vốn vào doanh nghiệp thì cũng có quyền được mua số cổ phần có quyền chào bán này một khi công ty quyết định bán cổ phần để huy động vốn. Đó cũng là đặc trưng của CTCP mà chúng ta hay gọi là “công ty mở”.
Một vài kết luận
Trong suốt một thời gian dài thực thi Luật Doanh nghiệp, sự ra đời của Nghị định 102/2010/NĐ-CP đã mang theo rất nhiều sự trông đợi. Bên cạnh những điểm tiến bộ, Nghị định 102/2010/NĐ-CP vẫn còn những tồn tại như phân tích trên. Chúng tôi có một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cần ghi nhận trường hợp giảm vốn điều lệ của công ty TNHH trong trường hợp công ty không huy động đủ số vốn theo cam kết góp vốn của thành viên công ty. Quy định theo hướng như vậy là hoàn toàn hợp lý. Vì vốn điều lệ về bản chất là số vốn mà thành viên công ty góp vào công ty. Cho nên dù là công ty TNHH hay CTCP thì cũng vậy. Không có lý do gì chúng ta thừa nhận việc giảm vốn điều lệ của CTCP trong trường hợp sau khi hết thời hạn ba năm mà công ty không huy động đủ vốn mà không thừa nhận việc giảm vốn đối với công ty TNHH.
Thứ hai, nhìn từ Điều 84 của Luật Doanh nghiệp, cổ đông sáng lập CTCP không cần phải mua hoặc đăng ký mua hết 100% vốn điều lệ công ty. Chính điều này tạo nên sự khác biệt độc đáo giữa hai loại hình công ty TNHH và cổ phần. Nếu như chúng ta thừa nhận sự đa dạng trong quy chế pháp lý giữa các mô hình kinh doanh, thì không có lý gì lại xoá nhoà đi ranh giới giữa các mô hình kinh doanh được luật thiết lập, bởi một nghị định hướng dẫn. Theo đó, nên bỏ đi qui định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP mà nên thừa nhận việc nợ 80% vốn như qui định của Luật Doanh nghiệp.

ThS. Phạm Hoài Huấn - Khoa Luật thương mại, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử

(1) Xem thêm Điều 38, Điều 44 Luật Doanh nghiệp.
(2) Điều 38, khoản 1, điểm a Luật Doanh nghiệp qui định:“Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp”.
(3) Điều 55, Điều 110 Luật Doanh nghiệp.
(4) Khoản 1 Điều 42 Luật Doanh nghiệp.
(5) Khoản 2 Điều 39 Luật Doanh nghiệp.
(6) Khoản 3 Điều 6 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.
(7)Khoản 4 Điều 84 Luật Doanh nghiệp qui định: “Trường hợp các cổ đông sáng lập không đăng ký mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Doanh nghiệp Nhà nước sinh ra không phải để cạnh tranh với thành phần kinh tế khác


Đã có nhiều ý kiến phân tích, đánh giá, góp ý, và tư vấn về tái cấu trúc kinh tế Việt Nam. Tổng hợp lại, mục tiêu cuối cùng của mọi khuyến nghị đều hướng tới việc tăng hiệu quả (và từ đó tăng tính cạnh tranh) của nền kinh tế Việt Nam.

Đã hết dần những ưu thế tự nhiên

Vấn đề được nhiều người bàn tới nhất là cắt giảm bớt đầu tư công (trên cơ sở cho rằng đầu tư công là thiếu hiệu quả), cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp Nhà nước (đặc biệt là các tổng công ty và các tập đoàn kinh tế), cải tổ thị trường tài chính, chuyển đổi mô hình kinh tế từ tăng trưởng dựa vào thâm dụng vốn và tài nguyên sang mô hình dựa vào tăng năng suất lao động và giá trị gia tăng, thay đổi hệ thống luật về đất đai (bao gồm cả việc nhìn nhận lại vấn đề quyền sử dụng đất), cải cách hệ thống tiền lương và thi tuyển công chức…

Những điểm yếu cơ bản của cơ cấu kinh tế Việt Nam không phải đến bây giờ mới được nhìn ra. Từ khá lâu, các chuyên gia kinh tế cũng như chính bản thân các nhà hoạch định chính sách đã phác thảo cận cảnh nền kinh tế với các biểu hiện rõ nét: Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm có xu hướng giảm dần, chất lượng giảm sút; tăng trưởng kinh tế thiên về chiều rộng, dựa chủ yếu vào gia tăng số lượng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên; hiệu quả sử dụng các nguồn lực (vốn, tài nguyên thiên nhiên, đất đai...) và năng suất lao động còn thấp. Chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm ở mức cao và có xu hướng tăng lên... Nếu các điểm yếu này chậm được khắc phục, tốc độ và hiệu quả nền kinh tế ngày càng suy giảm.




Cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp Nhà nước là một vấn đề được quan tâm


Theo phân tích của chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, hiện nay vốn đầu tư đang đóng góp khoảng 60% vào tăng trưởng GDP hàng năm; lao động và nhân tố lao động tổng hợp đóng góp phần còn lại, khoảng 40%. Do công nghệ chậm đổi mới, các sản phẩm công nghệ cao chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu (khoảng 6%) và hầu như không thay đổi trong 10 năm qua. “Cơ cấu các ngành nghề còn manh mún, nhỏ lẻ và phân tán, dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và lao động phổ thông giá rẻ. Trình độ sản xuất thấp nên sản phẩm xuất khẩu chủ yếu ở dạng gia công, lắp ráp. Giá trị gia tăng thấp do dựa chủ yếu vào nguyên liệu nhập khẩu và các sản phẩm trung gian từ bên ngoài” – ông Thành nói.

Bàn về chiến lược tái cấu trúc doanh nghiệp, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển cho rằng, việc tái cơ cấu là một trong những đòi hỏi từ các thành quả của khoa học – công nghệ trong sản xuất và quản lý. Theo đó, doanh nghiệp phải xác định chiến lược sản phẩm gắn với việc lựa chọn thị trường mục tiêu. Đồng thời, doanh nghiệp phải lập kế hoạch nâng cao sức cạnh tranh gắn với việc áp dụng công nghệ sản xuất mới, quản lý mới, phát triển nguồn nhân lực với lưu ý về việc tạo ra sự khác biệt.

Khoanh vùng cho doanh nghiệp Nhà nước

Ngoài việc nền kinh tế phụ thuộc vào các sản phẩm thâm dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thô, điểm yếu của nền kinh tế còn bộc lộ ở cơ cấu bất hợp lý về phân bố nguồn lực, biểu hiện ở các điểm: Các doanh nghiệp nhà nước chưa phát huy được vai trò dẫn dắt, chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kinh tế tư nhân trong nước còn nhỏ, chưa là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế; trong khi đó, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gia tăng nhanh chóng và đang mở rộng quy mô đến mức làm nền kinh tế phụ thuộc ngày càng nhiều vào bên ngoài.

Một khía cạnh khác là không gian kinh tế đang bị chia cắt theo đơn vị hành chính, nhất là các tỉnh, thành. Vì vậy, kinh tế vùng chưa hình thành bằng sự kết nối hữu cơ, hợp tác và bổ sung lẫn nhau để phát huy lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh. Thay vào đó, các địa phương thường theo đuổi cơ cấu kinh tế tương tự nhau, cạnh tranh theo kiểu “cùng đi về đáy”, làm sai lệch hoặc phá vỡ không gian và quy hoạch phát triển chung...




Khối doanh nghiệp Nhà nước chiếm gần 50% tín dụng của nền kinh tế




Một vấn đề khác được đặt ra là trong quá trình này, doanh nghiệp nhà nước ở đâu và làm việc gì? Ông Thành rất băn khoăn khi khối doanh nghiệp này chiếm gần 50% tín dụng của nền kinh tế nhưng hiệu quả hoạt động vẫn ở mức quá khiêm tốn. Mặt khác, hơn chục ngàn doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hóa và số còn lại đang tính đến biện pháp tái cơ cấu.


Chia sẻ những trăn trở này, ông Trương Đình Tuyển cho rằng cần xác định các ngành nghề cần có sự tham gia của doanh nghiệp Nhà nước và tỷ lệ tham gia cụ thể. Nội dung đáng chú ý thứ hai trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước là đẩy mạnh cổ phần hóa nhóm doanh nghiệp này, thực hiện công khai minh bạch hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước theo các tiêu chí của công ty niêm yết. Đồng thời, ông Tuyển cũng lưu ý nên đặt doanh nghiệp Nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác và đổi mới phương pháp quản trị doanh nghiệp Nhà nước và cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước.



Làm rõ hơn những lĩnh vực doanh nghiệp Nhà nước được làm, theo ý kiến của nguyên Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Trần Xuân Giá, thì Nhà nước chỉ cần và phải có mặt ở những nơi liên quan đến quốc phòng, an ninh, an toàn xã hội; những nơi rất cần cho sự phát triển đất nước mà tư nhân không muốn hoặc không thể làm… Còn lại để cho tư nhân làm nhà nước chỉ lo quản lý và thu thuế. Và với tư cách là nhà đầu tư, Chính phủ sẽ không đầu tư thành lập doanh nghiệp để tìm kiếm lợi tức tài chính; không đầu tư góp vốn, thành lập doanh nghiệp để tìm kiếm địa tô; không đầu tư góp vốn, thành lập doanh nghiệp cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trong các ngành, nghề lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân có khả năng đầu tư và phát triển.



Những thách thức của quá trình tái cơ cấu là không nhỏ. Theo ông Tuyển, thách thức lớn nhất là phải có quyết tâm chính trị cao ở cả cấp độ nhà nước và cấp độ doanh nghiệp. Thứ hai, tái cấu trúc là một quá trình lột xác khó thoát khỏi đau đớn và tái cấu trúc chắc chắn sẽ mất chi phí. Hệ quả của quá trình này là một số doanh nghiệp có thể bị loại khỏi thị trường và tăng trưởng có thể giảm. Các cơ hội và thách thức của quá trình này cũng đã được chỉ rõ. Về cơ hội, khoa học công nghệ phát triển nhanh có hệ quả là quy mô không bằng tốc độ.


Bên cạnh đó, quá trình hội nhập tạo thị trường rộng lớn và tạo điều kiện bảo đảm quy mô kinh tế trong đầu tư. Mặt khác, mặc dù còn khó khăn nhưng kinh tế vĩ mô sẽ có xu thế ổn định hơn, lạm phát được kiềm chế tạo điều kiện giảm lãi suất và tín dụng. Đáng lưu ý, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được đẩy mạnh cũng tạo ra nhiều danh mục đầu tư cho các doanh nghiệp lựa chọn.

Thứ Năm, 11 tháng 10, 2012

Thành lập doanh nghiệp, cần quan tâm gì?


Quyết định thành lập doanh nghiệp là một quyết định quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào, đặc biệt là những người mới khởi nghiệp.

Sau quyết định quan trọng đó, chính là lúc các nhà đầu tư tiến hành các thủ tục pháp lý để thành lập doanh nghiệp. Thủ tục pháp lý thành lập doanh nghiệp hiện nay khá đơn giản và thời gian xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũng không dài, nên có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập trong những năm gần đây.

Trong giai đoạn tiền thành lập này, các nhà đầu tư thường có khuynh hướng tập trung vào các vấn đề thương mại khác của doanh nghiệp như tìm hiểu thị hiếu khách hàng tiềm năng, chọn địa điểm kinh doanh, tìm nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp để phục vụ cho dự án kinh doanh...

Việc làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thường được nhà đầu tư xem nhẹ và coi là bước thủ tục phải làm mà không đặt trọng tâm vào. Tuy nhiên, trong thực tế có một số vấn đề pháp lý phát sinh có liên quan đến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà các nhà đầu tư (đặc biệt là những người mới khởi nghiệp) cần lưu ý.

1. Cần xác định ngành nghề kinh doanh cho doanh nghiệp

Xác định được ngành nghề kinh doanh cho doanh nghiệp rất quan trọng vì ngoài thủ tục đăng ký kinh doanh thông thường, ở một số loại ngành nghề, các nhà đầu tư còn phải xin thêm giấy phép kinh doanh, phải có chứng chỉ hành nghề, hoặc phải đáp ứng thêm một số điều kiện đặc thù của ngành nghề đó mà pháp luật quy định cũng như phải thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.

Hiện nay pháp luật doanh nghiệp quy định ba loại hình của ngành nghề kinh doanh chính mà đòi hỏi nhà đầu tư phải thỏa mãn thêm một số yêu cầu đối với việc đăng ký kinh doanh, đó là: (i) các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, (ii) các ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, và (iii) các ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề.

Đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện như nêu ở (i) thì tùy từng ngành, nghề kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ được yêu cầu phải: (i) xin giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho ngành nghề kinh doanh đó (ví dụ như đối với ngành sản xuất phim, doanh nghiệp phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh do Cục Điện ảnh cấp trước khi làm thủ tục đăng ký kinh doanh); hoặc (ii) đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh tại thời điểm thành lập và trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp (ví dụ như kinh doanh vũ trường, karaoke).

Đối với ngành nghề kinh doanh phải có vốn pháp định như nêu ở (ii) ở trên (ví dụ như kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định 6 tỉ đồng, dịch vụ đòi nợ phải có vốn pháp định 2 tỉ đồng), các nhà đầu tư phải chuẩn bị văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (cụ thể là xác nhận của ngân hàng).

Đối với ngành nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề như nêu ở (iii), ví dụ như kinh doanh dịch vụ pháp lý, kiểm toán, kế toán, thì tùy theo từng loại hình doanh nghiệp mà chủ sở hữu hoặc người quản lý doanh nghiệp phải có chứng chỉ hành nghề.

Do đó, việc xác định ngành nghề kinh doanh là rất quan trọng cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cần phải chắc chắn là mình có thể thỏa mãn các điều kiện pháp lý để có thể xin được giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trước thay vì lo tập trung cho các công việc khác mà phải tốn kém chi phí, ví dụ như đặt cọc thuê nhà, thuê mướn nhân viên) rồi cuối cùng nhận ra là mình chưa đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

2. Cần xác định nguồn vốn điều lệ

Các nhà đầu tư cũng cần xác định rõ loại tài sản nào mà nhà đầu tư sẽ dùng để góp vốn thành lập doanh nghiệp (ví dụ như tiền đồng, ngoại tệ, vàng, cổ phiếu, bất động sản, động sản...).

Riêng đối với tài sản góp vốn không phải là tiền đồng, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì cần phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá, để làm cơ sở cho việc góp vốn và hạch toán kế toán, thuế của doanh nghiệp.

Các nhà đầu tư cần thiết phải trao đổi với nhau để thống nhất phương thức định giá và tổ chức định giá trước khi thành lập doanh nghiệp hay thậm chí là tự thỏa thuận định giá với nhau - và có thể đưa vào trong hợp đồng/thỏa thuận thành lập doanh nghiệp (xem phần 6 bên dưới).

Việc này nhằm tránh trường hợp sau khi doanh nghiệp được thành lập xong, nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về phương thức định giá hay tổ chức định giá hoặc là giá trị của tài sản góp vốn, gây đình trệ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

3. Cần xác định số lượng thành viên góp vốn và loại hình doanh nghiệp

Số lượng các thành viên góp vốn cũng ảnh hưởng đến loại hình doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp sau này.

Nếu chỉ có một nhà đầu tư duy nhất, loại hình doanh nghiệp sẽ có thể là doanh nghiệp tư nhân với cơ chế quản lý là chủ doanh nghiệp, hay là công ty TNHH một thành viên đối với trường hợp nhà đầu tư là tổ chức với cơ chế quản lý có thể là hội đồng thành viên (nếu có từ hai người đại diện theo ủy quyền trở lên) hay chủ tịch công ty (nếu chỉ có một người đại diện theo ủy quyền) hay chủ tịch công ty nếu nhà đầu tư là cá nhân.

Nếu có từ hai nhà đầu tư trở lên thì các nhà đầu tư sẽ chọn lựa giữa việc thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên (có hội đồng thành viên) hay công ty cổ phần (có hội đồng quản trị và đại hội đồng cổ đông).

Mỗi loại hình doanh nghiệp và cơ cấu quản lý có những thuận lợi (ví dụ như thay đổi cổ đông sở hữu dưới 5% tổng số cổ phần của công ty cổ phần không phải thay đổi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty cổ phần có thể phát hành trái phiếu, chỉ cần một nhà đầu tư là đã có thể thành lập công ty TNHH) và những khó khăn (ví dụ như công ty cổ phần thì các cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cổ phần trong ba năm đầu thành lập, công ty cổ phần phải có ít nhất ba cổ đông sáng lập, lương trả cho chủ doanh nghiệp tư nhân không được coi là chi phí hợp lý, hợp lệ của doanh nghiệp tư nhân).

Do đó, các nhà đầu tư cần phải biết trước để chọn lựa loại hình doanh nghiệp và cơ cấu quản lý cho phù hợp. Chọn lựa sai có thể tạo sức ỳ, là lực cản tăng trưởng hay thậm chỉ làm cho doanh nghiệp bị phá sản.

4. Cần lựa chọn tên cho doanh nghiệp

Đặt tên cho doanh nghiệp cũng như đặt tên cho đứa con tinh thần của mình. Nó là thương hiệu của doanh nghiệp, mà từ nó có thể mang đến thành công hay thất bại cho doanh nghiệp. Hiện tại pháp luật cho phép đặt tên cho doanh nghiệp có thể là tên tiếng Việt, tên tiếng nước ngoài (nếu có), tên viết tắt.

Tuy nhiên, việc đặt tên cho doanh nghiệp cần phải đáp ứng một số quy định cũng như không được trùng với tên của những doanh nghiệp cùng ngành nghề đã đăng ký trước đó trong phạm vi toàn quốc.

5. Cần xác định địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp

Địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm địa điểm trụ sở chính của doanh nghiệp thành lập và cả địa điểm của các cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp (nếu có). Mặc dù quy định về đăng ký kinh doanh được áp dụng thống nhất theo Luật doanh nghiệp 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành, nhưng trên thực tế, xuất phát từ đặc thù riêng biệt mà ở địa phương có thể có những hạn chế, hay những điều kiện nhất định mà doanh nghiệp ở đó phải tuân theo.

Ví dụ, gần đây Sở Giao thông Vận tải Tp.HCM đang cho lấy ý kiến một số sở, ngành liên quan trước khi trình UBND thành phố chính thức ban hành danh mục các tuyến đường, đoạn đường, thậm chí cả một khu vực tạm ngưng không cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh các loại hình dịch vụ, thương mại tập trung đông người như siêu thị, nhà hàng, trung tâm tiệc cưới, trung tâm thương mại, trung tâm đào tạo...

Do đó, việc kiểm tra xem địa điểm kinh doanh dự kiến có được cơ quan cấp phép địa phương chấp thuận hay không trước khi thương lượng thuê nhà cũng rất quan trọng mà nhà đầu tư cần lưu tâm trước khi nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.

6. Cần có hợp đồng/thỏa thuận thành lập doanh nghiệp

Hợp đồng/thỏa thuận thành lập doanh nghiệp là hết sức quan trọng và cần thiết đối với trường hợp doanh nghiệp do nhiều nhà đầu tư tham gia. Tuy nhiên, hiện nay, chỉ đối với loại hình liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài thì hợp đồng liên doanh mới được yêu cầu phải có trong hồ sơ đăng ký kinh doanh mà thôi.

Tuy vậy, ngay cả với những trường hợp hồ sơ đăng ký kinh doanh không có yêu cầu thì các nhà đầu tư cũng nên lập hợp đồng hoặc thỏa thuận thành lập doanh nghiệp để có thể xác định quyền và nghĩa vụ của từng nhà đầu tư, tránh những tranh chấp không đáng có sau này.

Hợp đồng hoặc thỏa thuận này sẽ bao gồm những quyền và nghĩa vụ của từng bên trong quá trình chuẩn bị thành lập doanh nghiệp cho đến khi bắt đầu tiến hành đăng ký kinh doanh và ở giai đoạn doanh nghiệp mới thành lập, xử lý trường hợp doanh nghiệp không thể thành lập được... những vấn đề mà điều lệ mẫu của cơ quan cấp phép của địa phương không quy định (ví dụ như các thỏa thuận chuyển nhượng vốn giữa các thành viên góp vốn, cổ đông sáng lập trong tương lai; vấn đề bảo mật thông tin giữa các nhà đầu tư; những cam kết riêng lẻ về những vấn đề hợp tác đầu tư giữa các bên trong tương lai...).

Nói tóm lại, tùy từng trường hợp riêng biệt của nhà đầu tư mà những công việc pháp lý (như được nêu ở trên) cần chuẩn bị trước khi đăng ký kinh doanh. Sự tìm hiểu và chuẩn bị kỹ lưỡng của nhà đầu tư trong giai đoạn này sẽ giúp cho việc tiến hành đăng ký kinh doanh sau đó được thuận lợi hơn rất nhiều, tránh được những sự từ chối hoặc yêu cầu bổ sung, chỉnh sửa từ cơ quan đăng ký kinh doanh, tiết kiệm được thời gian, công sức và tiền bạc để doanh nghiệp có thể nhanh chóng đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

LS. Anh Hồng Ngân - LS. Nguyễn Hữu Phước (TBKTSG)