Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012

Bảo hộ bí mật kinh doanh của Doanh nghiệp VVN

I/ BÍ MẬT KINH DOANH LÀ GÌ?

- Nói theo nghĩa rộng, một thông tin kinh doanh bí mật bất kỳ mà tạo cho một DN lợi thế cạnh tranh đều có thể được coi là bí mật kinh doanh. Bí mật kinh doanh bao gồm các bí mật về công nghiệp hoặc sản xuất và bí mật thương mại. Việc sử dụng trái phép thông tin này bởi những người khác không phải là chủ sở hữu đều bị coi là thực tiễn không lành mạnh và xâm phạm bí mật kinh doanh. Phụ thuộc vào hệ thống pháp luật, việc bảo hộ bí mật kinh doanh tạo nên một phần của khái niệm chung của bảo hộ chống lại việc cạnh tranh không lành mạnh hoặc được dựa trên những điều khoản đặc biệt hoặc luật án lệ về bảo hộ thông tin bí mật.

- Đối tượng của bí mật kinh doanh thường được xác định trong phạm vi rộng và bao gồm các phương pháp bán hàng, các phương pháp phân phối, các hồ sơ khách hàng, các chiến lược quảng cáo, các danh sách các nhà cung cấp và khách hàng, các quy trình sản xuất. Trong khi việc xác định cuối cùng xem thông tin nào tạo nên một bí mật kinh doanh sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh của từng trường hợp cá nhân cụ thể, thì một cách rõ ràng rằng thực tiễn không lành mạnh của thông tin bí mật bao gồm tình báo công nghiệp hoặc thương mại, vi phạm hợp đồng và vi phạm lòng tin.

II/ BÍ MẬT KINH DOANH ĐƯỢC BẢO HỘ NHƯ THẾ NÀO?

- Trái với sáng chế, bí mật kinh doanh được bảo hộ không cần phải đăng ký, có nghĩa là bí mật kinh doanh được bảo hộ mà không cần bất cứ hình thức mang tính thủ tục nào. Bởi vậy, một bí mật kinh doanh có thể được bảo hộ vô thời hạn. Với những lý do này, việc bảo hộ bí mật kinh doanh có vẻ như đặc biệt hấp dẫn đối với các DN vừa và nhỏ. Tuy nhiên, có một số điều kiện để một thông tin được coi là bí mật kinh doanh. Thỏa mãn các điều kiện này có thể sẽ thấy khó và tốn kém hơn so với việc nhìn nhận ban đầu. Trong khi các điều kiện này khác nhau ở các quốc gia, thì có một số tiêu chuẩn chung được đề cập tới trong Điều 39 Hiệp định TRIPS:

 Thông tin phải là bí mật (có nghĩa là không được biết đến một cách chung, hoặc sẵn có để có thể tiếp cận, với nhóm người thường xuyên xử lý loại thông tin được nói tới).

 Phải có giá trị thương mại vì nó là một bí mật.

 Phải là đối tượng để người nắm giữ hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng những biện pháp hợp

Ví dụ
Một DNVVN phát triển một quy trình để sản xuất sản phẩm của mình cho phép sản xuất ra hàng hóa với phương thức hiệu quả hơn về mặt chi phí. Quy trình này tạo cho DN một lợi thế cạnh tranh hơn các đối thủ của mình. Do vậy, DN này đã đánh giá bí quyết kỹ thuật của mình như một bí mật kinh doanh và không muốn để đối thủ cạnh tranh biết được nó. Phải đảm bảo rằng chỉ một số lượng hạn chế người biết về bí mật này, và những người được biết này phải nhận thức rằng đó là bí mật. Khi giao dịch với các bên thứ ba hoặc chuyển giao quyền sử dụng bí quyết kỹ thuật của mình, DN ký các hợp đồng bảo mật để đảm bảo rằng tất cả các bên biết thông tin đó là bí mật. Trong trường hợp này, việc chiếm đoạt thông tin bởi một đối thủ cạnh tranh hoặc của bên thứ ba bất kỳ đều bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh của DN.

III/ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA ĐƯỢC DNVVN ÁP DỤNG

Các bí mật kinh doanh được sử dụng một cách rộng rãi bởi các DNVVN. Thực tế, nhiều DNVVN hầu như hoàn toàn dựa vào bí mật kinh doanh để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình (mặc dù trong nhiều trường hợp họ có thể thậm chí không nhận thức rằng bí mật kinh doanh được bảo hộ về mặt pháp lý). Vì vậy, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng các DN đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để bảo vệ bí mật kinh doanh của mình một cách hữu hiệu. Điều này bao gồm:

 Thứ nhất, xem xét bí mật đó có khả năng bảo hộ theo sáng chế hay không, và nếu có thì việc bảo hộ theo sáng chế có tốt hơn không.

 Thứ hai, chắc chắn rằng một số lượng người có hạn biết về bí mật đó và tất cả những người này đều phải nhận biết đó là thông tin mật.

 Thứ ba, có các thỏa thuận về bảo mật trong các hợp đồng lao động. Tuy nhiên, theo pháp luật của nhiều nước, người lao động phải chịu trách nhiệm bảo mật với người sử dụng lao động thậm chí ngay khi không có các hợp đồng này. Trách nhiệm giữ bí mật của người sử dụng lao động thường được duy trì, ít nhất là trong một thời hạn xác định, thậm chí cả sau khi người làm lao động đã thôi việc.


 Thứ tư, ký các hợp đồng bảo mật với các đối tác kinh doanh bất kể khi nào phải bộc lộ thông tin mật.

III/ NHỮNG TÌNH HUỐNG DNVVN CÓ THỂ HƯỞNG LỢI TỪ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH

- Trong khi một quyết định sẽ phải được đưa ra trên cơ sở của từng vụ việc, trong những trường hợp sau đây nên thực hiện bảo hộ dưới dạng bí mật kinh doanh:

 Khi bí mật không có khả năng được cấp patent.

 Khi rất có khả năng thông tin có thể được giữ bí mật trong thời hạn đáng kể. Nếu thông tin bí mật tạo bởi sáng chế có khả năng được cấp patent, việc bảo hộ bí mật kinh doanh chỉ thích hợp nếu bí mật đó có thể giữ được trên 20 năm (thời hạn bảo hộ dành cho một sáng chế) và nếu những người khác không thể đến được sáng chế tương tự bằng cách thức hợp pháp.

 Khi bí mật kinh doanh không được xem là có giá trị lớn tương xứng với một patent (mặc dù mẫu hữu ích có thể là một sự lựa chọn tốt ở những nước có bảo hộ đối với mẫu hữu ích).

 Khi bí mật liên quan đến quy trình sản xuất hơn là sản phẩm, vì các sản phẩm sẽ có khả năng bị phân tích ngược hơn.

 Khi DN đã nộp đơn để xin cấp patent và chờ được cấp patent.

- Tuy nhiên, điều quan trọng phải ghi nhớ rằng bảo hộ bí mật kinh doanh thường yếu ở hầu hết các nước, rằng điều kiện và phạm vi bảo hộ của nó có thể khác nhau đáng kể theo các nước phụ thuộc vào các cơ chế pháp luật hiện hành và luật án lệ, và rằng các tòa án có thể yêu cầu những nỗ lực đáng kể và tốn kém để duy trì bí mật. Việc bảo hộ sáng chế hay mẫu hữu ích, bất kể ở nơi nào có thể, sẽ cung cấp sự bảo hộ mạnh hơn nhiều.

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO