Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ KINH DOANH VỚI TƯ CÁCH CHỦ SỞ HỮU

phanLÊ VĂN TỨ
Nếu nền kinh tế công hữu hóa tập trung bao cấp không chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân, thì ngược lại, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần lại đòi hỏi phải có thành phần kinh tế nhà nước, vì nếu thiếu, thì đó không còn là kinh tế thị trường nhiều thành phần nữa. Theo định đề này, có thể thấy đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có hai nội dung chủ yếu:
1. Cổ phần hóa một bộ phận kinh tế nhà nước, trong đó cổ phần hóa được hiểu đồng nghĩa với tư nhân hóa khi toàn bộ một doanh nghiệp (DN) được cổ phần hóa, còn khi chỉ cổ phần hóa một phần DN thì đó là tư nhân hóa một phần. Cả hai dạng cổ phần hóa nêu trên đều đã diễn ra trong thực tế.

2. Đổi mới DNNN nhằm củng cố, tăng cường khu vực kinh tế nhà nước.
Với tư cách cơ quan quyền lực, Nhà nước qua Luật Doanh nghiệp thực hiện quản lý nhà nước đối với tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Trước pháp luật, DN các thành phần kinh tế đều bình đẳng. Tuy nhiên, với tư cách chủ sở hữu, Nhà nước không thể buông chức năng quản lý kinh doanh đối với các DN của mình.
Một câu hỏi nảy sinh: nếu các chủ quản (cũ) chỉ quản lý nhà nước, thì cơ quan nhà nước nào sẽ đóng vai trò chủ sở hữu để quản lý kinh doanh các đơn vị kinh tế nhà nước? Vấn đề này rất quan trọng nhưng lâu nay dường như còn bỏ ngỏ. Do đó, chức năng quản lý của chủ sở hữu cũng bị bỏ ngỏ theo.

Về danh nghĩa, DNNN có chủ là Nhà nước nhưng thực tế dường như vô chủ vì pháp luật chưa minh định ai là chủ. Đây là một môi trường màu mỡ cho lạm quyền, tham ô, tham nhũng đã đước tạo ra. Đã từng xuất hiện ý tưởng giao chức năng này cho các tổng công ty.

Song như thực tế đã cho thấy, các tổng công ty, kể cả Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước, không đủ tầm để thực hiện chức năng này, vì bản thân nó cũng chỉ là một DN, chỉ có tầm nhìn của DN, trong khi muốn đóng vai Nhà nước phải có tầm nhìn quốc gia.


Có thể nói đây là một khoảng trống trong cơ chế quản lý kinh doanh khu vực kinh tế nhà nước. Về mặt bộ máy, khoảng trống này bộc lộ rõ khi cần xử lý những vấn đề kinh doanh vượt quá thẩm quyền của hội đồng quản trị và tổng giám đốc, do thiếu một cấp trên để thường xuyên báo cáo và xin chỉ thị. Chẳng lẽ mỗi lúc như vậy lại trực tiếp trình lên Thủ tướng hoặc Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố?

Nhưng đó chỉ là một khoảng trống. Còn một khoảng trống quan trọng khác: thiếu hẳn vai trò chỉ đạo ở tầm chủ sở hữu kinh tế nhà nước trong điều hòa, phối hợp, nhất là trong tái phân phối vốn đầu tư và tích luỹ nội bộ của kinh tế nhà nước.

Cần nhấn mạnh rằng chính đây mới là thế mạnh của kinh tế nhà nước cần phát huy để tạo ra sức mạnh tổng thể và xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, nhất là trong cải cách cơ cấu kinh tế hiện nay, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.

Khoảng trống này bộc lộ rõ trong tình trạng nhiều tổng công ty/tập đoàn đang hoạt động như những vương quốc độc lập. Với danh nghĩa kinh doanh đa ngành, đã xuất hiện tình trạng đầu tư chồng lấn, trái ngành giữa nhiều đơn vị kinh tế nhà nước, sa đà vào những đầu tư rủi ro và không có thế mạnh như bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, tài chính…, gây ra những cơn sốt và thua lỗ không đáng có, trong khi nhiều hạng mục cần thiết cho nền kinh tế, đúng thế mạnh lại bị buông lơi do “thiếu” vốn!

Có lẽ nhằm lấp những khoảng trống nêu trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định về tập đoàn kinh tế nhà nước. Nhưng vấn đề đặt ra là chúng ta đang thiếu một cơ chế quản lý kinh doanh đối với kinh tế nhà nước, chứ không phải chỉ đối với tập đoàn kinh tế nhà nước vừa do lắp ghép cơ học, vừa do phát triển tự phát.
Cho nên rất cần một Nghị định (thậm chí một Luật riêng) để minh định cơ chế này. Cơ sở pháp lý của Nghị định này không phải là Luật Doanh nghiệp nhà nước (đã hết hiệu lực), mà là Luật Doanh nghiệp. Trong khuôn khổ Luật Doanh nghiệp và bằng Nghị định này, với tư cách chủ sở hữu, Chính phủ quy định khuôn khổ cho cơ chế quản lý kinh doanh các doanh nghiệp thuộc sở hữu của mình.

Nghị định này (và các văn bản tương tự) mang tính chất nội quy hơn là pháp quy. Nó chỉ có giá trị thi hành trong khu vực kinh tế nhà nước. Chính phủ không thể thông qua Nghị định này để quy định những ưu ái riêng cho DNNN.
Trong cơ chế quản lý này, vấn đề quan trọng bậc nhất là minh định người giữ vai trò chủ sở hữu. Tất nhiên người này phải có đủ tư cách nhân danh nhà nước làm chủ sở hữu kinh tế nhà nước. Cụ thể hơn, đó phải là người đứng đầu một cơ quan Nhà nước được cơ quan lập pháp (Quốc hội hoặc HĐND) bổ nhiệm và do đó có trách nhiệm báo cáo, giải trình và chịu sự giám sát của cơ quan lập pháp.
Lại phải có một bộ máy chuyên môn giúp việc, có vị trí tương đương một bộ, một sở. Ngoài ra bản thân người được chỉ định làm chủ sở hữu kinh tế Nhà nước này vừa phải có tầm nhìn quốc gia, vừa cũng có đủ phẩm chất của doanh nhân. Thiếu những điều kiện nay, khó nói tới cơ chế quản lý kinh doanh khu vực kinh tế nhà nước.


Trích dẫn từ: http://doanhnhansaigon.vn/online/doanh-nhan/trong-mat-nha-kinh-doanh/2010/08/1046583/nha-nuoc-quan-ly-kinh-doanh-voi-tu-cach-chu-so-huu/